Chủ Nhật, 25 tháng 9, 2016

TẢN MẠN VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÌNH DỤC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM /2/

Kết quả hình ảnh cho Hình ảnh tai gái tỏ tình

TẢN MẠN VỀ NHỮNG YẾU TỐ TÌNH DỤC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM /2/

Trần Minh Thương



2. Văn học viết
2.1. Văn học Việt Nam trung đại
Văn học Việt Nam trung đại hình thành và phát triển suốt chiều dài cùng chế độ phong kiến Việt Nam. Và, như thế nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố quy định, tác động đến nội dung, tư tưởng, đề tài, chức năng lẫn hình thức thể hiện. Quan niệm chính thống xem văn chương dùng để thể hiện “tâm, chí, đạo” của con người. Văn dĩ tải đạo; Thi ngôn chí, … Chỉ đến khi chế độ phong kiến xuống dốc, khả năng tiềm toả về mặt tư tưởng giảm bớt, con người mới “giật mình, mình lại thương mình xót xa”, từ đó nhà văn bắt đầu ý thức thể hiện vẻ đẹp hình thể như một nhu cầu của đời sống và văn chương.

Tình dục, yếu tố “dâm” trong văn học Việt Nam trung đại chỉ rải rác xuất hiện ở truyện, thơ truyền khẩu dân gian (cả hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương, cũng được nhiều nhà nghiên cứu gọi là dạng truyền khẩu, dù có tác giả chứ không khuyết danh). Thỉnh thoảng có một số ít tác giả văn học trung đại đưa những yếu tố nhạy cảm ấy vào thơ, phú, …, song, không nhiều.


2.1.1. Yếu tố hình thể, yếu tố sinh thực khí trong văn học Việt Nam trung đại

Truyện thơ Nôm khuyết danh Phạm Công Cúc Hoa, có chi tiết tả cảnh trạng nguyên Phạm Công vô tình nhìn thấy các cung nữ đang tắm khỏa thân ở bờ sông và đã bị triều đình “bắt tội”.
Ngã Ba Hạc phú, Nguyễn Bá Lân đã dùng hình tượng của ngã ba sông giúp người đọc liên tưởng đến chuyện khác:
Ba góc bờ chia vành vạnh, huyệt kim qui hẻm đá rộng hông hênh; hai bên cỏ mọc lâm dâm, hang anh vũ giữa dòng sâu huếch hoác.
Mọi thú mọi vui; một chiều một khác.
Lơ thơ đầu ông Lã thả cần; trần trụi mặc Chử Đồng ngâm nước.
Bè khách thương bạ bến, cắm neo quỳ gối lắc cày xuôi; thuyền ngư phủ thuận dòng, giương nách khom lưng chèo tếch ngược.
Dùi điểm thùng thùng trống gọi, cửa tuần ty rộn rã khách chen vai; chày đâm văng vẳng chuông đưa, nền Phật tự lao xao người rén bước.
Khác gì: Những chốn Tiêu Tương; đồ Tranh thủy mặc.
Trên lọ phải vén quần vua Tống, ra sức anh uy; dưới cũng vui vỗ bụng giời Nghiêu, dắng ca canh tạc.
Nguyễn Du miêu tả cảnh Kiều tắm:
Rõ màu trong ngọc trắng ngà
Dày dày sẵn đúc một toà thiên nhiên
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương, đưa hình thể của “thiếu nữ” hiện lên như một tuyệt tác của thiên nhiên:
Đôi gò Bồng Đảo sương còn ngậm
Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông
(Thiếu nữ ngủ ngày)
Bồng Đảo thường gọi là Bồng Lai, là tên của một trong ba hòn núi có tiên ở trong Bột Hải; Đào Nguyên là nơi đời Tần có một người tránh loạn vào ở đấy để tiêu dao. Từ nghĩa cụ thể chỉ địa danh nó phát triển rộng lên để chỉ những nơi đẹp, hấp dẫn. Hồ Xuân Hương dùng cách nói đồng âm để thay cho việc gọi tên hai bộ phận đặc trưng của thiếu nữ xuân thời. Thú vị hơn là cặp từ Bồng – Đảo; Đào – Nguyên cùng âm với bồng (bồng bế, nâng lên) – đảo; đào – (giữ) nguyên; là các hành động mà nếu đặt vào nhân vật “quân tử dùng dằng đi chẳng dứt” trong bài thơ, tương ứng với hai bộ phận “gò”, “lạch” đã nói, thì rất phù hợp cảnh ý lẫn tình!
Ở chỗ khác, dường như Bà đã tả bộ phận kín đáo của người phụ nữ bằng cách chơi chữ Vịnh cái quạt:
Chành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
Bộ phận sinh thực khí nam “ẩn mình” trong nghệ thuật tả cảnh Hang Cắc Cớ:
Một sư đầu trọc ngồi khua mõ
Hai tiểu lưng tròn đứng giữ am
(Hang Cắc cớ)
Nguyễn Khuyến cũng dùng cách nói õm ờ để người đọc có thể liên tưởng…
Người xinh, cái bóng tình tinh cũng …
Một bút một thêm một điểm tình!
(Đề ảnh Tố Nữ)
Câu thơ lấy ý từ câu ca dao: Người xinh cái bóng cũng xinh/ Người giòn, cái tỉnh tình tinh cũng giòn.


2.1.2. Yếu tố hoạt động tình dục trong văn học Việt Nam trung đại

Nguyễn Gia Thiều, trong Cung oán ngâm khúc khi miêu tả cảnh “mây mưa” của vua với cung nữ, đã dẫn tư liệu trong văn học Trung Quốc – một biểu hiện nghệ thuật tiêu biểu của thơ Việt Nam trung đại:
Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn,
Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng
Tề Tuyên Vương khi nói chuyện trị với Mạnh tử, có nói câu quả nhân hữu tật, quả nhân hiếu sắc: kẻ quả nhân (tự xưng) này có tật, kẻ quả nhân này ưa sắc. Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên, tức bệnh ưa sắc đẹp của một đấng quân vương
Trong thơ Kiều, khi miêu tả cảnh Thuý Kiều ở lầu xanh, Nguyễn Du viết:
Dập dìu lá gió cành chim
Sơm đưa Tống Ngọc tối tìm Tràng Khanh
Hình ảnh lá gió cành chim có nguồn gốc từ chuyện nàng Tiết Đào đời Đường lúc nhỏ, nàng có làm bài thơ rằng: Chi nghinh nam bắc điểu; diệp tống vãng lai phong, nghĩa là: Cành đón chim nam bắc/ Lá đưa gió lại qua.Người cha xem thơ biết rằng số con không ra gì. Nguyễn Du đúc ý tứ từ hai câu thơ của Tiết Đào thành nhóm từ lá gió cành chim để chỉ cảnh gái giang hồ, tiếp khách bốn phương.
Trước đó, nhà thơ miêu tả cảnh Mã Giám Sinh tước mất “cái ngàn vàng” của Kiều:
Miếng ngon kề đến tận nơi
Vốn nhà cũng tiếc của trời cũng tham
“Đào tiên đã bén hơi phàm,
Thì vin cành quýt cho cam sự đời!
Dưới trần mấy mặt làng chơi
Chơi hoa đã dễ mấy người biết hoa?
Nước vỏ lựu, máu màu gà
Mượn màu chiêu tập lại là còn nguyên” (…)
Tú Bà khi biết sự tình đã lớn tiếng mắng Thuý Kiều đánh mất sự trinh trắng bằng hình ảnh:
Màu hồ đã mất đi rồi
Thôi thôi vốn liếng đi đời nhà ma
Sống cảnh lầu xanh, Thuý Kiều có lúc “nuối tiếc” bởi không trao thân cho người mình yêu thương:
Biết thân đến bước lạc loài
Nhị đào thà bẻ cho người tình chung
Trong thơ Hồ Xuân Hương, cách miêu tả cụ thể hơn, chi tiết hơn, dù nó cũng ẩn ý qua cách miêu tả cảnh “đánh đu”, thực ra không khác gì cảnh trong “phòng the”:
Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn manh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân đã biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.
Tóm lại, với quan niệm thẫm mỹ khắt khe của những “hiền nhân quân tử” theo học cửa Khổng sân Trình nên văn học Việt Nam trung đại không chú trọng yếu tố tả thực. Vì thế, nó càng hiếm hoi cảnh ái ân, nếu có cũng được dùng bằng các điển tích, cách chơi chữ dùng từ đa nghĩa, … Tất cả nhằm mục đích để “tránh” đi những chuyện cần tránh!
Song khát vọng của con người vẫn âm ĩ và sẵn sàng bùng cháy khi có điều kiện. Nguyễn Công Trứ, một bậc danh Nho thời Nguyễn đã thẳng thừng tuyên bố:
Chơi cho lịch mới là chơi
Chơi cho đài các cho người biết tay
Tài tình dễ mấy xưa nay?
Trong cảnh “ngất ngưởng”, đi chùa lễ Phật ông vẫn mang hầu thiếp theo cho thoả lòng vui thú!
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
Hồ Xuân Hương mạnh mẽ khẳng định, đó là chuyện con người, rất con người, chẳng có gì phải dấu giếm: Chúa dấu vua yêu một cái này! (Vịnh cái quạt)
Hay như:
Hiền nhân quan tử ai mà chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo

2.2. Trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX – 1945

2.2.1 Vài nét về nền văn học được hiện đại hóa
Văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 đã bước vào thời kỳ hiện hoá, thoát khỏi hệ thống thi pháp của văn học trung đại.
Thế nào là hiện đại hoá? Xem ra không dễ để trả lời, bởi nó gồm nhiều yếu tố.
Về quan niệm thẩm mỹ, nhà văn xem cái đẹp mang những nét chân thật đời thường. Không còn nhiều bóng dáng của nghệ thuật ước lệ có sẵn như trước đây.
Văn học hiện đại xem con người với tất cả những vẻ đẹp trần thế vốn có. Không chỉ dùng “tâm chí đạo” để phản ánh mà con người trong văn học thời kỳ là con người cá nhân, ý thức về cái tôi, cái bản ngã của chính mình.
Trong những cách thức thể hiện cái tôi ấy có phương diện miêu tả vẻ đẹp của hình thể (những bộ phận liên quan đến tính dục), và những hành động ái ân, những cảnh hãm hiếp được thể hiện bằng những ngôn ngữ đời thường, tả thực. Chúng tôi, xin điểm qua một số tác phẩm như vậy!

2.2.2.
Những tiểu thuyết trước và trong Tự lực văn đoàn
 

Có lẽ nhà văn tả cảnh thật sự dục tính đầu tiên của văn chương Việt Namlà Lê Hoằng Mưu, với tác phẩm Người bán ngọc (xuất bản 1931). Chuyện người bán ngọc tên Tô Thương Hậu giả phụ nữ bán ngọc để gần gũi và trở thành tình nhân của Hồ phu nhân:
Vén mùng rồi vừa gạt chưn để lên giường, xẩy thấy một toà thiên nhiên, lịch sự như tiên giáng thế, làm cho ng??i bán ngọc mảng mê nhan sắc trố mắt đứng nhìn, quên bổn phận mình, mưu sự tệ tình, bất cẩn .... Thấy Hồ phu nhân mê mẩn giấc nồng sổ đầu, nằm bỏ tóc, xấp xả khó gìn giữ cho đặng. Bèn sẽ lấy mền đắp bụng cho Hồ phu nhân; rồi lại muốn đưa tay rờ rẫm vuốt ve cho thoả. Không dè, mới thò tay vừa tới bụng sợ phập phồng nó làm cho tấc dạ bồi hồi, tay rung lập cập. Người bán ngọc không dám rờ! Lật đật thục tay vào rồi xây mặt ngó quanh quẩn bên mình ..... Vuốt qua vuốt lại, rờ xuống rờ lên đôi ba phen mà Hồ phu nhân mê mẩn không hay, ng??i bán ngọc thấy vậy mới dễ ngươi, ái tình lại dồi lòng tà dục ... muốn kề má hôn cho phỉ dạ. Có một điều là rờ rẩm vuốt ve thì không sao, chớ hễ muốn kề má xuống hun, thì lại hườn cựu lệ, trống ngực đánh rầm rầm, chưn tay run lẩy bẩy ... đổ mồ hôi ướt đẫm như người bị cảm mạo phong sương ... dục thúc quá dằn lòng không đặng, người bán ngọc bèn gượng đưa tay ra rờ cái ngọc cốt phi phàm ... Rờ tới đâu chết điếng tới đó ...
Đến tiểu thuyết, truyện ngắn của Tự lực văn đoàn, Nhất Linh miêu tả dục tính trong truyện ngắn Tháng ngày qua một cách loáng thoáng với chi tiết nhân vật Giao trọ học nhà bạn đã dám ho he tòm tèm để ý bà boss của anh bạn... "bốn mắt gặp nhau, ... cặp môi nàng mấp máy, dưới tấm áo mỏng, ngực nàng phập phồng, hai con mắt nhìn chàng có vẻ lẳng lơ, nồng nàn như đắm tình " ....
Các tác giả lãng mạn thời ấy kể chuyện tình yêu lãng mạn đấy nhưng ít ai đi vào chi tiết làm tình hay tả chân thân thể người nam hay nữ. Ngay cả người được coi là “mạnh tay” như Lê Xuyên với những tác phẩm như Chú Tư Cầu hay Rặng trâm bầu... thì nhân vật nam nhiều khi mất cả ... tuần mới cởi xong cái nút áo của người yêu.

2.2.3. Trong văn học hiện thực

Nhà văn gây ra nhiều cuộc tranh luận về vấn đề “dâm hay không dâm” bậc nhất thời kỳ này chính là Vũ Trọng Phụng. Chúng tôi không bàn sâu về vấn này, chỉ xin điểm lại vài chi tiết trong một số tác phẩm tiểu biểu có miêu tả yếu tố tình dục của ông.
Vũ Trọng Phụng thường thể hiện bản năng tính dục như một “căn tính” chung của loài người, bất kể họ ở tầng lớp nào, giai cấp nào. Xin nêu một số dẫn chứng:
- Dục tình cũng lại mạnh hơn ái tình. Vả lại bao nhiêu cuộc ái ân của người đời lại không bắt đầu chỉ vì dục tình? (Giông tố)

- Nói đến ái tình lý tưởng mà không đếm xỉa đến cái dâm, đó chỉ là việc của hạng mộng mơ ảo huyền (Làm đĩ), …

Nhân vật Thị Mịch – một cô gái quê ngây thơ, trong trắng, sau khi “biết mùi đời” trong chiếc xe hòm thỉnh thoảng lại nhớ lại cảm giác khoái lạc như một kẻ đói ăn khát uống: Cái lúc ấy thật là gớm ghiếc, thật là bẩn thỉu, thật là đau đớn, nhưng trong đau đớn không phải là không có thứ khoái lạc trong xác thịt làm cho đỡ thấy đau, …Mịch đã “tự thoả mãn” bản năng bằng cách mơ mộng đến những người lạ mặt, những người qua đường, … Cảm giác “háu đói” ở Phó Đoan (Số đỏ) còn rõ rệt hơn: Từ khi bị hiếp, những cái cảm giác tê mê hiếm có rất khó tả, rất kỳ quái, cứ theo mãi bà như bóng theo người, lâu dần, việc ấy thành một sự ám ảnh.
Trong Giông tố, ngoài hành động cưỡng hiếp Thị Mịch “trong xe hơi”, mà Nghị Hách đã tự kể:
- Bảo hiếp dâm thì thật là vu oan. Thưa ngài, lúc ấy xe hơi của chúng tôi liệt máy, phải chữa trong hai ba tiếng đồng hồ. Giữa lúc tôi buồn, thình lình con bé ấy dẫn xác đến. Ngài cũng thừa biết cho là dẫu người tai to mặt nhớn đến thế nào đi nữa, thì cũng phải có lúc giăng gió một chút, cái ấy là trời sinh ra. Tôi hỏi con bé, nó đã bằng lòng... nó cũng như là một đứa giang hồ, mà cái việc xằng bậy của tôi thì cũng chỉ là của một người không hoàn toàn đứng đắn mà đi chơi bậy đêm mà thôi.
Vũ Trọng Phụng còn miêu tả những hành động tình dục của Long với Thị Mịch, sự loạn luân của Tuyết với Long, …
Trong Số đỏ ngoài sự dâm đãng của Phó Đoan mà chúng tôi đã dân, còn những cảnh: Xuân tóc đỏ rình xem bà Phó Đoan tắm, những cảnh làm tình của Hoàng Hôn, hay cô Tuyết lẳng lơ cùng “chiếc áo hở nửa vú”, … đốc tơ Trực Ngôn nói về dâm một cách hài hước: Thưa các ngài, loài người chỉ lôi thôi vì một cái dâm mà thôi! Đứa trẻ mới đẻ miệng bú mẹ, một tay mân mê cái vú, ấy cũng là dâm rồi.
Huyền trong Làm đĩ còn được nhà văn “chăm chút” hơn. Mới 8 tuổi đã tò mò đủ thứ, chẳng hạn như làm thế nào để đẻ con, đẻ con bằng cách nào? Lên 9 tuổi đã để ý đến “những chuyện thô tục mà người ta vẫn nói xung quanh”, đã cùng thằng Ngôn chơi trò vợ chồng dại dột để nhận “trong người một cảm giá là lạ”. Lên 13 tuổi, Huyền đã phải chiến đấu mỗi ngày một gắt gao với tình dục” và “sự phát triển âm thầm và đầy đủ của những cơ quan tỉ mỉ trong bộ phận sinh thực làm cho xác thịt của em rạo rực lên”, …
Chúng tôi xin mượn nhận định của Đinh Trí Dũng trong Nhân vật trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng (Nxb Khoa học xã hội, 2004) để thay lời tiểu kết phần Vũ Trọng Phụng: Vô tình, Vũ Trọng Phụng đã biến phần bản năng sinh lý có thật ở con người thành một thứ “chủ nghĩa định mệnh sinh lý” và chính nó đã không ít lần đứng ra chạy tội cho cái hoàn cảnh xã hội mà ông muốn lên án, xoá bỏ, (…) điều này đã dẫn ông đến với chủ nghĩa tự nhiên trong một số tiểu thuyết.
Trước đây, cũng có ý kiến coi đoạn Chí Phèo gặp Thị Nở (trong Chí Phèo) của Nam Cao cũng là đoạn theo tự nhiên chủ nghĩa:
Hắn nhìn giữa hai lọ nước và tựa lưng vào gốc chuối, một người đàn bà ngồi tênh hênh. Chính là người đàn bà, hắn biết vậy là nhờ mái tóc dài buông xõa xuống vai trần và ngực... Hai tay trần của mụ buông xuôi, cái mồm mụ há hốc lên trăng mà ngủ hay là chết. đôi chân thì duỗi thẳng ra trước mặt, cái váy đen xộc xệch... Bên kia, có lẽ vì mụ giẫy cái yếm xẹo xọ để trật ra cái sườn nây nây. Tất cả những cái ấy phơi ra trăng, rười rượi những trăng làm trắng những cái đó có lẽ ban ngày không trắng; trăng làm đẹp lên. Chí Phèo tự nhiên thấy ứ đầy miệng bao nhiêu là nước dãi, mà cổ thì lại khô, hắn nuốt ừng ực, hắn thấy cái gì rộn rạo ran khắp người. Bỗng nhiên hắn run run. Ồ tại sao lại như thế được? (…)
Và thị Nở giật mình. Thị Nở mới kịp giật mình thì thằng đàn ông đã bám víu lấy thị.... Thị vùng vẫy đẩy ra, thị mở mắt, thị tỉnh hẳn, thị nhận ra Chí Phèo. Thị vừa thở, vừa vật nhau với hắn vừa hổn hển: "Ô hay... Buông ra... Tôi kêu... Tôi kêu làng... Buông ra. Tôi kêu làng lên bây giờ!” Thằng đàn ông lại phì cười. Sao thị lại kêu làng nhỉ ? Hắn vẫn tưởng chỉ có hắn mới kêu làng thôi, người ta lại kêu tranh của hắn, bỗng nhiên hắn la lên, kêu làng. Hắn kêu như một kẻ bị đâm vừa kêu vừa dằn người đàn bà xuống. Thị Nở trố hai mắt ngây ra nhìn. Thị Nở bỗng nhiên bật cười. Thị Nở vừa rủa vừa đập tay lên lưng hắn. Nhưng cái đó là cái đập yêu, bởi vì đập xong, cái tay ấy lại giúi lưng hắn xuống....
(…) Và chúng cười với nhau...
Bây giờ thì chúng ngủ bên nhau... đứa bé bú no thì ngủ. Người ta ngủ say sau khi làm việc yêu. Chúng ngủ như chưa bao giờ được ngủ... Trăng vẫn thức vẫn trong trẻo...
Chúng tôi, không nghĩ thế, chỉ có thể xem đó như một tả về tình yêu hay chính xác hơn là một lần bản năng dục tính trong con người đã thức ở Chí Phèo, để từ đó dẫn đến nhiều điều khác mà tác giả muốn thể hiện.
Có thể xem cảnh tượng trên như là một “vụ hiếp dâm”, nhưng không rõ ràng. Ngô Tất Tố - nhà văn cùng thời với Nam Cao, đã hai lần miêu tả cảnh chị Dậu bị cưỡng bức, trong Tắt đèn. Có điều, cận cảnh vấn đề thì nhà văn còn viết những vế câu biền ngẫu này, không bằng Nam Cao.
Lần đầu, chị bị tên Tư Ân, một viên quan giỏi chiêu thức “hiến vợ mình để cướp vợ người”, giở trò. Hắn bảo vợ hắn, lên quan mà “chiều” quan trên. Để rồi, ở nhà giở trò “chim chuột” với “người đàn bà nhà quê”:
- Con lạy quan lớn, chúng con là gái có chồng, quan lớn tha cho...
Quan phủ vừa co tay chị, vừa trả lời :
- Không được! Có chồng mặc kệ có chồng... Ngày mai cho về với chồng. Ai giữ làm gì?
Chị Dậu nhất định cố giằng tay ra và cứ một mực :
- Con lạy quan lớn! Chúng con là gái có chồng, quan lớn tha cho
Dường như cơn hăng nổi lên. Nhưng mà chị này khỏe hơn, vừa rẫy rụa, vừa buột miệng gắt gỏng:
- Ô! Nhà ông này mới hay chứ! Có buông ra không thì tôi kêu lên bây giờ!
Quan phủ không trả lời. Ngài mắm thật chặt hai môi.. chị Dậu hết sức vùng vẫy để nhoài mình ra. Trận huỳnh huỵch kéo dài đến hơn mười phút. Chị Dậu du được bên địch ngã kềnh xuống đất, rồi chị chạy ra cửa và đứng tựa lưng vào tường để giữ thế thủ.
Lần thứ hai, đoạn cuối tác phẩm, khi chị Dậu đi ở vú và bị tên dê già mất nết, giở trò:
(…) Mang tai chị thấy hơi rầm rạm như bị những sợi râu ngắn quét vào rồi thấy có tiếng thì thào.
- Tao! Tao đây. Cụ... đây. Nằm im.
- Bẩm cụ chúng con là phận tôi tớ...
- Nói khẽ chứ. Tắt đèn nhà ngói như nhà tranh. Tao không cần gì cái đó. (…)
Ở một đoạn khác, một khác cạnh khác, Ngô Tất Tố say sưa miêu tả vẻ đẹp về hình thể của người đàn bà:

(…) Hai cái bầu vú đầy sửa mẩy găng, sửa ở trong vú rỉ ra, ướt đầm cả một lần yếm, làm cho chị Dậu bồn cồn xót ruột về con bé ở nhà. (…)
Nguyễn Công Hoan trong Người ngựa, ngựa người có miêu tả thoáng qua hành động của “cô gái điếm”, xin “tự nguyện trả công” cho người kéo xe:
(…) Tôi gán cho anh khăn, áo, đồng hồ mà anh không lấy, thì tôi chả biết nghĩ thế nào cho phải cả. Thôi thì anh kéo tôi ra chỗ kín, vắng, anh muốn bắt tôi gì tôi xin chịu.
- Tôi bắt gì cô mà tôi bắt!
Cô ả nắm lấy tay, vỗ vào vai anh xe, nhăn nhở cười:
- Anh này thực thà quá, nghĩa là chỉ có anh với tôi thôi, thì người tôi đây, anh muốn làm gì tôi cũng bằng lòng.
- Ối thôi! Tôi lạy cô. Nhỡ cô đổ bệnh cho tôi thì tôi bỏ mẹ tôi.
(…)

/ Mời đọc tiếp 3/

Trần Minh Thương
/ Trannhuong.c
om

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét