Chủ Nhật, 18 tháng 9, 2016

Thơ NNB/ 99 KHÚC TẶNG LIÊN/ Bài 7,8,9

Thơ NGUYỄN NGUYÊN BẢY
99 KHÚC TẶNG LIÊN

NXB VĂN HỌC

THỨ TỰ : 007. Vườn Chiều/ 008. Ca Trù Mùa Thu/
009. Sông Tương


007. VƯỜN CHIỀU

Một vườn chiều có thực
Máy bay địch đã bay xa
Hai đứa nhoi lên từ hầm trú ẩn

Và một vườn chiều khác hẳn
Tiên Dung căng màn trên cát mềm
Sao em chọn chỗ này để tắm ?
Chử Đồng Tử tôi nghèo lắm
Khoan khoan xối nước khoan khoan
Chớ để thịt da tôi đắc tội
Chớ để đau lòng mẹ cha...

Em là hoa không hoa
Mắt cười xanh lắm
Trong mắt ấy thật nhiều ảo ảnh
Như thực lại như mơ
Đôi mắt chào tôi quen tự ngày xưa
Cái ngày xưa cổ tích
Em mời tôi nhấm nháp táo dầm
Chưa mở đèn vườn chiều âm âm
Ghế đá lạnh se sương sớm
Em bảo từ phía tương tư thơ em đến
Đòi tôi cho nghe thơ

Thơ hơn mọi bài thơ
Nước trôi nước trôi xiêm áo cát
Tình yêu đầm Dạ Trạch
Thanh cao vòi vọi Tiên Dung

Tôi giáo đầu em nghe một tỏ tình buồn
Về căn nhà tôi ở
Khói hun muỗi khét mùi hương giẻ
Muỗi bay
Muỗi bay có làm em sợ?
Tôi đang độc ẩm cuồng say
Những ly rượu thơ cồn cào bụng đói
Bao nhiêu triệu người đang đói
Có thơ uống như tôi đâu

Sao em lại cúi đầu
Thương tôi mắt khóc?

Tiên Dung không khóc
Nàng nắm tay Chử Đồng Tử đỡ lên
Xối nước tắm cho chàng
Và hát....

Tôi đọc em nghe thơ một người tàn tật
Hoảng loạn chân trên đường
Vai quẩy gánh buồn
Tưởng thóc giống quơ tay tung vãi
Đôi khi giật mình sợ hãi
Lấm lét nhìn quanh một sắc áo vàng
Em nắm tay tôi sát lại bên mình
Như sợ tôi bị bắt
Tóc em đôi ba ngọn
Hơ hoảng tìm mặt tôi

Tiên Dung thánh thót lời lời
An ủi Chử nỗi lo cha mẹ nàng phạt vạ
Cha mẹ sẽ tác thành chúng ta nên vợ nên chồng
Nghèo không có tội chàng ơi...


Tôi đọc em nghe một khúc không lời
Tình yêu chẳng bao giờ xưa cũ
Hoan phối tả trên trống đồng Ngọc Lũ
Trần tục thăng hoa
Giếng Ngọc kể chuyện Cổ Loa
Trương Chi tương tư Trương Chi hát
Trương Chi nhớ thương em
Vườn chiều cười khúc khích
Trong em nhìn, tôi như mới mười ba
Mười ba ngây thơ
Mười ba mơ hồ
Vồi vội nụ hôn hoa sữa

Trời cũng như trăng trời thương Chử
Nhưng Chử tránh mặt trời
Chử không muốn xóm làng xấu hổ
Chử không khố đóng nàng ơi
Trăng đầy rồi trăng vơi
Trăng cấy lúa bắt còng cùng Chử...

Tôi đọc em nghe thơ diêm dân đồng bể
Biển quê mình nhiều thế
Nắng quê mình nhiều thế
Be bờ phơi là thành muối trắng tinh
Rỗ mặt vẫn nặng lòng làm muối
Muối nhiều thế mà bao đời vẫn đói
Chẳng lẽ thượng du không phải đồng bào?
Rồng rắn lên mây trẻ hát đồng dao
Trẻ hát đồng dao lên mây rồng rắn
Thà là đừng nhiều nắng
Thà là đừng nhiều bể
Câu đồng dao trẻ hát rối mù

Tiên Dung hát ru
Bài se tơ dệt vải
Chử hát giữa trời nắng cháy
Bài ca vỡ đất mênh mông...

Muốn em nghe câu hỏi giấu trong lòng
Về dòng sông chảy qua làng Việt cổ
Những cô gái dâng mình cho Hà Bá
Xin sông đừng lũ lụt sông ơi
Những cô gái bị gọt đầu bôi vôi
Khác gì nhau giữa hai lẽ sống chết
Một chết trinh và một chết yêu
Em phỉ phui tôi
Ngón tay thơm khép bờ môi chín
Em kỵ nói chuyện rồi phải đến
Vườn chiều hôi hổi gió chim

Chử lội khắp làng trên
Dậy dân làng trồng lúa nước
Tiên Dung đi cùng xóm dưới
Dạy thôn nữ tầm tơ...

Tôi đọc em nghe thơ không chỉ là thơ
Là ước nguyện tôi từ tấm bé
Hai chân dung người tôi muốn vẽ
Suốt đời vẫn chửa vẽ xong
Bà tôi đi gánh lưng còng
Giã trầu câu ru Tô Thị
Tự khi nào mắt bà thành mắt mẹ
Chẳng còn lệ khóc chờ con
Bao nhiêu trai tráng tòng quân
Chiến tranh liên miên ngày về vô định
Nhưng sông Hát vẫn ru lời thần thánh
Tô Thị hóa đá để còn làng
Còn làng mẹ hóa đá chờ con...

Vườn chiều đang ngẩn ngơ thương
Chử Đồng Tử,Tiên Dung bay vào mây trắng
Có thể nay mai họ lại xuống vườn chiều

Lại viết kỳ tích yêu lạ khác
Phải không em? 

Không lời đáp chỉ bàn tay lạnh ướt
Em đã buông tay tôi đi tự lúc nào
Còn đây hơi ấm nôn nao
Chia tay đến một gật chào cũng không 
Chợt vườn chiều mênh mông
            
Máy bay địch cách Hà Nội ba mươi cây số         
Cầu mong đấy chỉ là cái cớ để em đi
Máy bay địch đã bay xa
Là cái cớ để em về
Nhưng máy bay địch đã bay xa xa mãi
Người tương tư thơ ấy vẫn chưa về...

(Dốc Thọ Lão, căn nhà muỗi 16, bài thơ viết khoảng những năm 1970, Liên tình cờ tìm thấy giắt trên khe mái nhà trước ngày đi Sài Gòn  theo chồng với gia tài bản thảo mang theo)


008. CA TRÙ MÙA THU


Phút giây ấy với tôi là duyên số
Hai tình cờ gặp nhau
Em trao chỉ một gật đầu
Đôi mắt cười mệt mỏi
Chỉ thế thôi vồi vội
Chim bay về tổ chiều thu
Tôi đi theo hương thu

Hồn tình sét đánh
Xóm Hạ Hồi thoang hương sữa lạnh
Hoa từ vú lụa thơm ra
Tôi rảo quanh lặng lẽ Nguyễn Du
Cửa sổ nhà ai bóng thúy
Tôi vòng ra phố Huế
Chật khoang tầu điện gió thu
Những mái phố ca trù
Cửa chợ Hôm trễ yếm
Tiếng rao tầm quất nhạc xèng
Em ở đâu giữa Hà Nội dọc ngang
Ba sáu phố phường khép mở
Một nửa của tôi ơi
Hàng Đào Hàng Lược Hàng Vôi
Nợ tình nỡ nao Cấm Chỉ
Xin nghe tôi một lời chém đá
Đêm nay rồi đêm mai
Thu nay rồi thu mai
Năm nay rồi năm mai
Em là gió anh cũng tìm thấy gió
Thu dẫn tôi vào ngõ nhỏ nhà em
Khu cổ tích thuyền rồng
Hồ thu vua trả kiếm
Đâu thành quách dương đài nguyệt điện
Nhà em nóng rực như lò
Đun cháy mọi điều mơ mộng
Em là cô thợ ca ba
Tôi lặng mình và chợt hiểu ra
Có một Hà Nội khác
Một Hà Nội nửa tôi.

Chúng tôi bên nhau riêng một trời
Riêng một đất
Đường Cổ Ngư ngắn chừng gang tấc
Trăng vàng rơi qua kẽ tay
Trôi bồng bềnh rồi rơi vào sóng bạc
Mắt sướng thi nhân ngơ ngác
Cổ thụ ngồi trải lá vàng khô
Chúng tôi rù rì rù rì
Những lời say ong mật
Tạ trời ban cho hạnh phúc
Cánh hồn bay chơi vơi

Một nửa tôi không lời
Thương đau có gì phải kể
Cảnh mất cha đổ buồn mắt mẹ
Mất mẹ trút khổ vai em
Mười bảy tuổi mỏng manh thuyền
Chèo chống đàn em dại
Tôi là người Hà Nội
Thuộc rất nhiều Hà Nội văn chương
Hà Nội ca trù lúng liếng
Hà Nội Ba Đình nắng
Hà Nội sông Hồng nước lên
Nhưng Hà Nội em
Tôi chưa hề biết
Ca trù thuyền phá luật
Đàn gảy nín cung thương
Trống chầu giữ nhịp
Tôi kịp lên thuyền
Hợp sức cùng em vượt thác
Cảm động tình Bích Câu thuở trước
Em là tranh Tố nữ làng Hồ
Tôi hân hoan đón kỳ ngộ bây giờ
Nhật nguyệt yêu mưa phùn gió bấc
Áo tình một chiếc phong phanh
Trao nhau tấm chân thành
Nụ hôn người Hà Nội
Nụ hôn tự biết thăng hoa
Yêu em thế nào tôi chẳng thể nói ra
Bởi đôi tay biết nói
Lời mồ hôi lời giá cóng
Lời mềm nặn sữa nuôi con
Lời thèm mắt ngủ
Lời kẽo kẹt làm chồng làm vợ
Hoa Ngọc Hà xuống phố ban mai
Hà Nội mình những năm bảy mươi
Kỳ ngộ tình bao nhiêu trang đẹp
Cô bác sĩ Cửa Đông nuốt khóc
Thiệp hôn phủ xác nửa mình
Anh pháo thủ phố Hàng Mành
Gặp nửa mình tiếp đạn
Anh thợ điện người Ô Quan Chưởng
Bới nhặt nửa mình trong đổ nát Khâm Thiên
Anh giáo cận Kim Liên
Ao thu nửa mình đứng tắm
Kể sao hết những Tú Uyên muôn vạn
Gặp muôn vạn Giáng Kiều mọi nẻo thành đô
Những kỳ ngộ đẹp như thơ
Tình mình sánh làm sao được
Ấy là lẽ vì sao em không khóc
Trước gian nan tem gạo phiếu tiền
Ấy là lẽ tôi nói lời yêu em
Biết là mình đáng sống
Ấy là lẽ vì sao tứ thời dép lốp áo xanh
Dép lốp bè trầm áo xanh bè bổng
Gió kinh thành ngũ sắc hoan ca
Ấy là lẽ vì sao sao xa
Vào mắt em lay láy
Ca trù mùa thu.


009. SÔNG TƯƠNG


Gió thổi qua mắt em
Gió mang theo vị mặn
Mắt em nhìn đâu sao lâu chớp thế
Có phải em dong thuyền ra bể
Lỡ rớt mái chèo trên sông Tương?

Hỏi em anh bỗng nhiên buồn
Chiều nhạt nắng tóc xõa vai nhạt nắng
Sông Tương
Sông Tương ở đâu
Mà ai cũng đi qua sông Tương nhỉ
Ai đi qua cũng rớt mái chè
o?

Th
ơ nguyễn nguyên bảy
99 Khúc Tặng Liên


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét