Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

PHÙNG THÀNH CHỦNG/ Chùm Văn Cực Ngắn/ Hết/

CAN THO STREETS 14x14" gouache on paper, live painting, Cần Thơ Province, original by Nguyen Ly Phuong Ngoc
Tranh Phương Ngọc

  PHÙNG THÀNH CHỦNG
  
Chùm Văn Cực Ngắn




1. An Nam có phải là Quốc hiệu ?
Quốc hiệu là tên gọi chính thức của một nước. Lịch sử cho thấy nước ta từ rất sớm vốn là một nước văn hiến và đã trải qua nhiều lần thay đổi Quốc hiệu. Đầu tiên là Văn Lang (đời Hồng Bàng) rồi Âu Lạc (đời Thục An Dương vương). Đến tiền Lý (Lý Bí) là Vạn Xuân ; triều Đinh và đầu triều Lý (đến Lý Thái tông) là Đại Cồ Việt ; từ Lý Thánh tông (1054) đến hết triều Trần (tháng 3/1400) là Đại Việt. Qua nhà Hồ đổi là Đại Ngu ; đến nhà Lê lại đặt là Đại Việt. Nhà Nguyễn, từ năm 1802 đến năm 1819 là Việt Nam ; từ năm 1820 đến trước ngày 2/9/1945 là Đại Nam. Với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Quốc hiệu " Việt Nam dân chủ cộng hòa" được dùng từ ngày 2/9/1945 đến trước ngày 2/7/1976. Song song và cùng tồn tại với Quốc hiệu " Việt Nam dân chủ cộng hòa" là Quốc hiệu " Việt Nam cộng hòa" của chính thể miền nam Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào và trong thời điểm từ năm 1954 đến ngày 30/04/1975. Từ ngày 2/7/1976 cùng với quyết định đổi tên nước, Quốc hiệu của nước Việt Nam thống nhất là " Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam"
Vậy cái tên An Nam để gọi nước ta có xuất xứ từ đâu ? Theo " Đại Việt sử ký toàn thư" và " Việt sử thông giám cương mục" - hai bộ chính sử của nước ta : Năm Kỷ Mão (679), nhà Đường phía đông đánh chiếm Triều Tiên, đặt ra An Đông đô hộ phủ, phía bắc đánh chiếm Mông Cổ và lãnh thổ các dân tộc Đột Quyết, Uy Guya, lập ra An Bắc đô hộ phủ. Nhân đó, chia nước ta ra làm 12 châu, 59 huyện và đặt là An Nam đô hộ phủ, phủ lị ở Giao châu. Cũng như An Đông, An Bắc (vùng đất phía Đông và phía Bắc đã dẹp yên), cái tên An Nam cũng có nghĩa là vùng đất phía Nam đã dẹp yên. Nước ta gọi là An Nam khởi đầu từ đấy !
Như vậy, trải các triều Đinh, Lê, Lý, Trần ... mặc dù vẫn chịu sự thụ phong của các triều đại phong kiến phương Bắc (trong đó có Mông Cổ) nhưng trong việc nuôi dân dựng nước, nước ta có quy mô riêng, tên gọi riêng, khẳng định của một nước có chủ quyền. Theo đó cái tên An Nam không phải là tên gọi chính thức của nước ta trong lịch sử, do đó nó không phải là Quốc hiệu mà chỉ là sự áp đặt từ bên ngoài, coi nước ta như một phiên thần, một nước chư hầu ! Ngay cả khi người Pháp sang, hai từ An Nam vẫn được dùng để chỉ nước ta (như một sự đổi chủ) nhưng dù có nhu nhược đến đâu, nhà Nguyễn vẫn khẳng định quyền độc lập, tự chủ của mình với Quốc hiệu Đại Nam. Hẳn người Mông Cổ, Đột Quyết, Uy Guya không ai coi An Bắc là Quốc hiệu của mình, cũng như người Triều Tiên không ai nhận Quốc hiệu của họ là An Đông...


2. " Nhuận bút" ngày xưa.
Để thử tài số phi tần mới tiến cung, năm Mậu Thân (1848) , ông vua hay chữ Tự Đức đã ra một cái đề là " Tảo mai" (Hoa mai buổi sớm) và bắt mỗi người phải làm một bài thơ. Bài của tiệp dư Nguyễn Nhược Thị Bích đã được Tự Đức cho điểm cao nhất và thưởng cho 20 nén bạc ( " nhuận bút" cho một bài thơ như thế phải nói là cực cao.)
Nguyễn Nhược Thị Bích (1830 - 1909) tự Lang Hoàn, người huyện An Phước, tỉnh Ninh Thuận (có sách nói bà người làng Phúc Yên, tổng Phúc Yên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên). Nổi tiếng là người đủ cả công, dung, ngôn, hạnh, năm 19 tuổi bà được tiến cung. Là thầy dạy của Kiến Phúc và Đồng Khánh khi hai ông vua này còn nhỏ. Năm Ất Dậu (1885) bà hộ giá hai cung theo vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị phát động phong trào Cần vương. Tác phẩm " Hạnh thục ca" (dài 1036 câu) bằng chữ Nôm của bà được viết trong thời gian này.
Một trường hợp khác là tác phẩm :" Đại Nam quốc sử diễn ca" của Lê Ngô Cát (1827 - 1876). Tác phẩm này được viết vào năm Canh Thân, niên hiệu Tự Đức thứ 13 (1860) khi Lê Ngô Cát làm việc ở Quốc sử quán, gồm 1887 câu, chép việc từ đời Hồng Bàng đến hết thời hậu Lê. Đây là tập sử ca thứ hai được viết bằng chữ Nôm ở nước ta, sau "Thiên Nam ngữ lục". Xem tập diễn ca, Tự Đức phải chịu tài thơ của Lê Ngô Cát, nhưng không hiểu sao chỉ thưởng cho tác giả của nó có một vuông đũi với 2 ... đồng, một giải thưởng có tính tượng trưng hơn là giá trị vật chất ! Đã đành "một nén tiền công không bằng một đồng tiền thướng", hơn nữa đây còn là của vua ban, nhưng ... một vuông đũi ... thì đúng là chỉ may được ... cái khố ! Vốn có óc khôi hài, Lê Ngô Cát liền tức cảnh hai câu thơ :
" Vua khen thằng Cát có tài
ban cho cái khố với hai đồng tiền !"
Tưởng làm là chỉ để đọc cho vui, nào ngờ chuyện đến tai Tự Đức. Kết quả là Lê Ngô Cát "được" 30 roi "nhuận bút" vào mông vì tội làm hai câu thơ có ý "xược" (ấy là vẫn còn may, chứ nếu bị khép vào tội "khi quân" có khi còn chết người).
Một trường hợp nữa là tác phẩm : " Truyện Kiều" nổi tiếng của đại thi hào Nguyễn Du. Tuy là người hay bắt bẻ, đọc " Truyện Kiều" của Nguyễn Du, Tự Đức cũng phải công nhận đúng là :" Hàng hàng châu ngọc, lời lời gấm thêu" ; nhưng sau đó, chẳng hiểu do suy diễn hay do sự xúc xiểm của đám bồi thần, Tự Đức bỗng dưng đùng đùng nổi giận:" Nếu Tố Như (tên tự của Nguyễn Du) mà còn sống, phải nọc nằm xuống đánh cho 30 roi !" Nguyên nhân của sự nổi giận này là do câu:" Thì con người ấy ai cầu làm chi !" (đoạn Kiều nói với Kim Trọng về chữ "hạnh", một trong "tứ đức" của người con gái, khi Kiều tìm sang với Kim Trọng trong dịp Vương ông, Vương bà và hai em về bên ngoại ăn mừng sinh nhật) đã được ngắt thành:" Thì / con người ấy / ai cầu làm chi !" và được hiểu theo nghĩa:" Một con người như Tự Đức thì chẳng ai cầu làm gì !" ( chả là tên húy của Tự Đức là Nguyễn Phúc Thì ) . Như vậy là tác giả của nó đã mắc vào tội vừa phạm húy, vừa phạm thượng ! Chẳng hiểu trong chuyện này, Tự Đức nói thật hay nói đùa, chứ quy tội " vừa phạm húy lại vừa phạm thượng " ( với mình ) cho một tác phẩm được viết ra từ lúc mình còn chưa đẻ ( Nguyễn Du mất năm 1820, Tự Đức sinh năm 1829 ) thì quả là ... thậm vô lý, nếu không muốn nói là buồn cười ! Mà không hiểu sao một ông vua nổi tiếng hay chữ lại cũng là người sáng tác như Tự Đức lại hay ỷ vào quyền hành để đòi" đánh" văn nghệ sĩ đến thế !


3. Đơn vị tiền tệ thời xưa qua một bài ca dao cổ .
" Một quan tiền tốt mang đi
Nàng mua những gì mà tính chẳng ra
Thoạt tiên mua ba tiền gà
Tiền rưỡi gạo nếp với ba đồng trầu
Trở lại mua sáu đồng cau
Tiền rưỡi miếng thịt ; giá, rau mười đồng
Có tính mà tính chẳng thông
Tiền rưỡi gạo tẻ, sáu đồng chè tươi
Ba mươi đồng rượu chàng ơi
Ba mươi đồng mật, hai mươi đồng vàng
Hai chén nước mắm rõ ràng
Hai bảy mười bốn kẻo chàng hồ nghi
Hai mươi mốt đồng bột nấu chè
Mười đồng nải chuối, chẵn thì một quan.
Bài ca dao nghe ra có vẻ rất mộc mạc mà thật dí dỏm : Một anh chồng vốn thuộc loại " đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành" đã "hỏi khéo" vợ, sau khi vợ đi chợ về:" Mang đi một quan tiền, nàng mua những gì (hết cả quan tiền) mà tính chẳng ra !" (tính không ra là ai ở đây?) Biết tính chồng, người vợ đã rất tế nhị :" Có tính mà tính chẳng thông" (chứ không phải là tính chẳng ra) ; rồi, nàng tính với chồng từng thứ đã mua, kèm theo giá cả cụ thể của từng thứ thì vừa đúng:" ... chẵn thì một quan". Qua đó, ta thấy người vợ không những không phải là người" có tính mà tính chẳng thông" mà còn là người tính đâu ra đấy và rất chỉn chu trong việc chi tiêu.
Trở lại vấn đề đặt ra ở đầu bài viết, chúng ta nhận thấy: Bài ca dao đã đề cập đến ba đơn vị thanh toán (trong việc mua bán trao đổi) thời xưa là: "quan", "tiền" và "đồng".Chúng ta cũng biết đơn vị "quan" lớn hơn đơn vị "tiền" và "đồng" nhưng còn "tiền" và "đồng" ( "tiền" lớn hơn "đồng" hay "đồng"lớn hơn "tiền"?) Và tỷ giá của chúng? Để trả lời câu hỏi này, trước hết chúng ta hãy cùng nhau làm một phép tính:
Tổng số tiền người vợ đã chi cho việc mua những mặt hàng tính theo đơn vị "tiền":
3 tiền (gà) + 1,5 tiền (gạo nếp) + 1,5 tiền (thịt) + 1,5 tiền (gạo tẻ) = 7,5 tiền.
Tổng số tiền người vợ đã chi cho việc mua những mặt hàng tính theo đơn vị "đồng":
3 đồng (trầu) + 6 đồng (cau) + 10 đồng (giá, rau) + 6 đồng (chè tươi) + 30 đồng (rượu) + 30 đồng (mật) + 20 đồng (vàng) + 14 đồng (nước mắm) + 21 đồng (bột nấu chè) + 10 đồng (nải chuối) = 150 đồng.
Vậy:
1 quan = 7,5 tiền + 150 đồng (1).
Theo Lê Quý Đôn trong " Vân đài loại ngữ" thì 1 quan = 10 tiền ; như vậy, thay (1) bằng (2) ta có:
10 tiền = 7,5 tiền +150 đồng (2) ; suy ra 2,5 tiền = 150 đồng.
Do đó: 1 tiền = 150 đồng : 2,5 = 60 đồng, hay 1 quan = 60 đồng x 10 = 600 đồng...

Văn cực ngắn của Phùng Thành Chùng/ Tác giả gửi bài

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét