Thứ Bảy, 22 tháng 4, 2017

Họa sĩ Nguyễn Thanh Sơn/ TRANH VẼ HAI CÕI ÂM DƯƠNG/ EnEnBi

TRANH VẼ HAI CÕI ÂM DƯƠNG
Nguyễn Nguyên Bảy

Ai chẳng biết cõi âm là cõi chết, cõi u tối, cõi buồn đau, cõi của tiếng khóc, cõi của lúc đỉnh đêm trời không trăng sao. Ai chẳng biết cõi dương là cõi sống, cõi hoan lạc, cõi thịnh vượng, cõi của tiếng cười, cõi của lúc đỉnh ngày trời xanh mây nắng. Nhưng không phải ai cũng “thấu lý” cái lẽ giữa đỉnh đêm đen, âm thịnh nhất, một đốm sáng của bình minh đang hiện. . Và không phải ai cũng “nhận biết” cái sự chuyển dịch của lúc 12 giờ trưa, dương thịnh nhất, đời đang vênh vang nhất, đã có cái đốm của âm, của chiều đang sầm sập về. Tranh của Nguyễn Thanh Sơn biểu đạt được cái lẽ giao hòa và chuyển dịch của hai cõi âm dương đó.
Vũ khúc đêm về sáng, các cô gái Tây Nguyên, lắc lư vai, đung đưa mông, say đắm chuyển dịch tâm hồn từ âm-đêm vào dương-non-ngày. Ý tưởng đó chưa phải là tài tình. Tài tình ở chỗ vũ khúc hoan lạc của đời người, cõi dương, đâu thể kéo dài mãi, bởi cận kề ngay đó đã là cõi âm – Tượng nhà mồ, con quạ. Chuyển vận của vũ trụ là đêm đang rạng ngày, đối nghịch với chuyển vận của đời người, dương đã báo hiệu âm. Đây là một tác phẩm biểu đạt hoàn chỉnh nhất cái có thể gọi là tuyên ngôn, là bút pháp, là phong cách Nguyễn Thanh Sơn.
Lời Ru, Hồn Gỗ, sự tương phản âm dương lồ lộ trong bố cục và rực rỡ trong mầu sắc, người xem cảm như tác giả xếp đặt âm dương, tranh hình như lý trí. Nhưng thật may, đặc biệt ở Hồn Gỗ, cái quầng sáng đã ru vỗ nỗi đau của người đàn bà khóc người thân, rằng, sống chết ở đời là cái lẽ thường tình, không thể khóc thương mãi rồi hóa đá, bởi ngày đã rạng, con người ta dù đau khổ cách nào vẫn cần phải sống.
Không quá lời, nếu nói rằng tranh Nguyễn Thanh Sơn đã giao hòa được hai cõi âm dương. Nhưng vì sao Sơn lại chọn lựa hai cõi âm dương làm tư tưởng chủ đạo cho (gần như toàn bộ) các tác phẩm của mình? Phải chăng đó chính là nguyên mẫu Tây Nguyên, nơi cõi sống và cõi chết không có làn ranh rõ rệt, người chết như không hề chết, mà vẫn quanh quất đâu đây sống cùng người sống, không chỉ trong lòng mà ngay trong các hoạt động của đời thường. Từ cái lẽ đó, người sống và người chết hiện lên trong Giao Cảm xúc động, trong Dáng Núi rạng rỡ huy hoàng.
Thật hiếm họa sĩ cả một đời không múa cọ vẽ khỏa thân. Ngoài 16 tác phẩm bày triển lãm, xem thêm một số chưa bày, Sơn vẽ khỏa thân hơi nhiều, nhưng thật may, đây là “khỏa thân Tây Nguyên” – Khỏa thân thật nguyên như đời sống của các cô gái Tây Nguyên từ ngàn xưa và ngay cả hiện thời.
Từ các cô gái trinh nguyên Dáng Núi, Hoa Pơ Lang đến các bà mẹ Chiều, Rượu Cần, Xuống Phố… Nhận rằng: Phụ nữ Tây Nguyên vào tranh Sơn trang trọng quá, đẹp quá, khỏa thân mà như không khỏa thân, không có những chấm phá dành cho gợi dục thấp hèn.
Nhưng “Khỏa thân Tây Nguyên” của Sơn có cái gì đấy phảng phất “gái Huế”, “gái thị thành”. (Sơn tự giới thiệu: Sinh năm 1959. Gốc Huế. Sống ở Pleiku). Phải chăng một hình bóng người thương nào đó (tất nhiên không phải cô gái Tây Nguyên) còn luôn ám ảnh và tượng duyên trong nét cọ của Sơn mỗi khi Sơn vẽ “Khỏa thân Tây Nguyên”. Đường nét mượt quá, bố cục duyên quá.
Chợt nhớ tới các cô gái Haiiti trong tranh GôGanh. Sơn đã bao giờ yêu một thiếu nữ Tây Nguyên? Chưa. Lời đáp của Sơn đã lý giải phần nào cái chưa tới của mình.
Nhưng dù sao, “Khỏa thân Tây Nguyên” của Sơn cũng đã rất Sơn. Bảo rằng những tranh ấy gần đồ họa, gần với trang trí.
Đáp rằng: Thế giới Tây Nguyên chất là vậy, mà cũng vì vậy mới là Sơn. Khỏa thân Tây Nguyên của Sơn đạt được như Gỗ Say, thì quả thật, sống ở đời chưa một lần được uống rượu cần Tây Nguyên là chưa sống hết một đời. Gỗ say hay người say? Siêu thực. Nói rằng đây là tác phẩm nghệ thuật nhất trong các tác phẩm bày của Sơn mà không e quá lời. Tranh là tranh không thể là gì khác. Tranh đã ngân nga trong tâm hồn và tự nhiên rung ngâm như thơ Tương tiến tửu của Lý Bạch.
Tranh Sơn không vẽ đủ cái hùng tráng của Tây Nguyên như các trường ca Đam San (cổ), Đất nước đứng lên(hiện đại, anh hùng Núp của Nguyên Ngọc) mà người xem đã thấy trong nhiều tranh của những họa sĩ khác. Nhưng lạ thay, cái chất hùng tráng đó vẫn như ẩn hiện trong tranh Sơn.
Không có lấy một mái nhà rộng, nhưng lại thấy mỗi nhà, mỗi kiến trúc đời sống trên lưng từng người đàn bà Tây Nguyên. Góc này của gùi (góc bếp hay nhà kho). Góc kia của con (địu trên lưng hoặc trước ngực), góc này của chồng và cũng là của mình (một nậm rượu, hay một nậm nước trong tay). Không nhiều các dân tộc trên thế giới này, đeo mang trên mình người phụ nữ cả một đời sống thường nhật. Tây Nguyên là vậy và Sơn đã vẽ được cái vậy. Tự nhiên và hồn.
Cuộc sống của Tây Nguyên là cuộc sống gần gũi giao hòa với thiên nhiên. Cõi sống và cõi chết (như đã nói ở trên) ranh giới thật mong manh. Nên, khi xem Vũ Khúc Nửa Đêm Về Sáng, cảm được cả tiếng chiêng cồng, cảm được cả tiếng gió ngàn, thật đậm. Chắc chắn, khi xem tranh Sơn, nếu người KTS được giao trách nhiệm thiết kế công trình cho Tây Nguyên, hẳn không thể thành công được, nếu những thiết kế đó, không giao hòa được cuộc sống dương với cuộc sống âm, cuộc sống của con người với thiên nhiên, trời đất…
Nhận rằng:Những tác phẩm Dáng Núi, Giao Cảm, Hồn Gỗ, Gỗ Say… Là những tác phẩm đạt tới sự Kiến trúc nhất trong Hội họa và Hội họa nhất trong Kiến trúc. Nói khác: Hội họa và kiến trúc đã hóa thân vào nhau, không ranh giới, chỉ còn cái hồn của mầu sắc và bố cục nói với người cảm thụ nó.
Nguyễn Thanh Sơn sẽ đi xa hay gần, không ai biết điều đó hơn Sơn, bởi Sơn đang đi trên đôi chân của mình. Mọi lời khích lệ với Sơn không thật cần, chê bai càng không thiết, bởi ngoài 30 tuổi, Sơn đã tự hiểu mình, tự đánh giá được mình. Chỉ muốn tặng Sơn một suy nghĩ: Giữa đêm, âm cực thịnh, nhưng nhìn thấy sự tất yếu của ban mai, phải ráng mà đi nhanh tới đó. Giữa ngày, dương cực thịnh, đừng vội bằng lòng, nếu biết rằng tất yếu trời sẽ về chiều, phải biết tùng tiệm và chậm chạp đi về chiều. Càng kéo dài khúc dương thịnh được bao nhiêu là càng cống hiến được cho đời nhiều tác phẩm và cuộc đời riêng càng nhiều ý nghĩa.

Viết
4-10-91,  Triển lãm tại Sài Gòn, trụ sở Hội Nhà Báo đường Lê Duẩn
Từ đó đến nay, không gặp lại, không được xem tranh Sơn. Nhớ bạn, đăng lại bài đã đăng trên Tạp chí Kiến Trúc và Đời sống, số tháng 10.1991. Ký tên EnEnBi.
2017. 4. 18. Nguyễn Nguyên Bảy.


Bài tham khảo biết thêm thông tin về họa sĩ Nguyễn Thanh Sơn
Họa sĩ Nguyễn Thanh Sơn: "Tôi vẽ Tây Nguyên và chỉ vẽ Tây Nguyên"

(GLO)- Sinh ra và lớn lên ở Pleiku, họa sĩ Nguyễn Thanh Sơn đã xem vùng đất này là một miền tâm tưởng với những miên man, trăn trở không dứt trong suốt hơn 20 năm làm nghệ thuật. Đến nay họa sĩ tự do Nguyễn Thanh Sơn-một trong những người học trò thành danh nhất của cố họa sĩ Xu Man-đã có khoảng 200 tác phẩm về Tây Nguyên, trong đó có nhiều tác phẩm đoạt giải cao. Trò chuyện với phóng viên, ông chia sẻ:

Là đứa con của Tây Nguyên nhưng chính khi đi xa, tôi mới thấy yêu hơn và vẽ nhiều hơn về Tây Nguyên. Cái cảm giác bồi hồi xúc động trong những lần trở về đã cho tôi nhiều cảm xúc hơn trong sáng tạo.

Tác phẩm “Giao cảm giữa đất và người”
Tác phẩm “Giao cảm giữa đất và người”
Mỗi người đến với nghệ thuật đều có một cơ duyên nào đó. Còn ông thì sao?
Họa sĩ Nguyễn Thanh Sơn (SN 1959) là hội viên Hội Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam. Đến nay ông đã có 4 triển lãm cá nhân tại TP. Hồ Chí Minh và có tranh tham gia 14 triển lãm tranh quốc tế tổ chức tại Nhật Bản, Bỉ, Singapore, Australia, Mỹ, Indonesia… Các tác phẩm tiêu biểu: Giao cảm âm dương, Bữa tiệc của thần linh, Giao cảm giữa đất và người, Người thiêng, Hành trình âm dương, Nỗi niềm trên đất thiêng, Đêm và tiếng vọng… Một số giải thưởng nổi bật: giải nhì của Hội Mỹ thuật Việt Nam (năm 1996, 1997, 2003), giải ba Hội Mỹ thuật Việt Nam (2002), giải nhất Hội Mỹ thuật Việt Nam (2003).
- Năm 1984, trước khi vào học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế (nay là Đại học Mỹ thuật Huế), tôi đã có một khoảng thời gian 4 năm tham dự những lớp học kẻ vẽ và sáng tác ngắn ngày do Sở Văn hóa-Thông tin Gia Lai tổ chức. Người thầy đầu tiên và cũng là người truyền cho tôi ngọn lửa đam mê chính là họa sĩ Xu Man-cánh chim đầu đàn của nền hội họa Tây Nguyên. Hồi đó lớp học không nhiều học sinh và chúng tôi thường gọi thầy bằng cái tên thân thương là chú Xu Man. Bước đầu học vẽ, chúng tôi cũng chỉ vẽ theo bản năng, chưa có khái niệm gì về nghệ thuật. Nhưng bằng sự gần gũi, thân thương và hồn nhiên trong nghệ thuật, họa sĩ Xu Man đã “khai sáng” cho chúng tôi những khái niệm cơ bản về nghệ thuật tạo hình.

Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Huế năm 1987 hệ trung cấp, vào Sài Gòn với những đam mê cháy bỏng của tuổi thanh xuân, tôi hòa chung vào dòng chảy phát triển của thời đại bằng với chính tình yêu nơi mình đã sinh ra. Tôi vẽ Tây Nguyên và chỉ vẽ Tây Nguyên. Đây là đề tài lớn xuyên suốt trong quá trình sáng tác từ đó đến cuối đời tôi.

Vì đâu Tây Nguyên lại trở thành cảm thức, thành mạch giao cảm xuyên suốt trong các sáng tác của ông?

- Ngày trước, nhà tôi ở làng Kép (TP. Pleiku). Vì vậy, tôi hay lang thang ở những buổi lễ bỏ mả của làng. Có thể nói, mạch giao cảm giữa tình yêu tôi-Tây Nguyên bắt nguồn từ những đêm thao thức, đắm chìm trong âm vọng cồng chiêng giữa chốn mênh mông đại ngàn. Tôi yêu những vũ khúc đêm về sáng. Đầu hôm, thời khắc của cõi dương, trong bập bùng ánh lửa, những vũ khúc dương gian như ru hồn người chết vào giấc ngủ. Cho đến khi đêm dần về sáng, những âm vang đồng vọng của đại ngàn lắng xuống cùng với giấc ngủ trong men say của dân làng, qua ánh lửa tàn tro tôi như thấy người đã khuất hóa thân qua những tượng mồ. Tôi thấy họ như đang nhảy múa, họ than khóc, họ hát, họ ru cho yêu thương và khát vọng. Từ đó đã hình thành trong tôi mạch giao cảm âm-dương xuyên suốt trong quá trình sáng tạo. Tôi vẽ cái âm bản của cuộc đời và mãi là như vậy
Nhưng để khẳng định nét riêng so với những gì đã thể hiện về Tây Nguyên trong hội họa là điều không hề dễ dàng?

- Đúng vậy, để đi tìm một bến đỗ trong nghệ thuật không hề đơn giản và có khi phải đánh đổi bằng cả đời người. Tôi vẫn đang đi tìm trong cái sáng tạo của riêng mình. Tôi vẽ Tây Nguyên theo cái tôi hiểu chứ không vẽ theo cái tôi thấy. Tôi vẽ cái tâm linh, vẽ về sự sâu lắng, trầm tĩnh… Tôi chú tâm vẽ những người đang tồn tại trước áp lực của cuộc sống đang dần bị “bê tông hóa”, và văn hóa đang dần bị mai một. Đặc biệt là trước cái “bã văn minh”, khi mà rượu đế thay cho rượu ghè, chai nước suối thay cho bầu nước, quần áo sida thay cho thổ cẩm… Tôi muốn níu giữ cái hồn Tây Nguyên. Tôi muốn kêu lên một tiếng kêu bằng sự thầm lặng, bằng tình yêu. Con đường đang đi có thể sẽ gập ghềnh chông gai, nhưng tôi hạnh phúc bởi tôi đang là chính mình.
Tác phẩm “Sự thánh thiện giữa đất và người”
Tác phẩm “Sự thánh thiện giữa đất và người”
Vào những năm 80 của thế kỷ trước, khi mà nhiều người còn phải lo chuyện ăn no mặc ấm thì ông tìm đất sống trong hội họa như thế nào?

- Quả thật vào thời điểm đó bán tranh là điều không tưởng. Để tồn tại và nuôi dưỡng niềm đam mê sáng tạo, nhiều họa sĩ lúc đó đã phải làm nhiều công việc trái nghề để kiếm sống. Thịnh hành nhất bấy giờ là vẽ áo dài và cà vạt. Tôi cũng trong dòng chảy đó và tồn tại được một thời gian cho đến khi ra mắt triển lãm đầu đời vào năm 1991. Tuy khó khăn nhưng tôi vẫn tự tin vào chính mình, tôi biết mình sẽ thành công trên con đường đào đất tìm ngọc. Hơn nữa, tôi còn có được nhiều cái duyên may trong cuộc đời.

Bây giờ tranh của ông bán được cao nhất là bao nhiêu tiền một bức?

- Theo tôi, giá trị của tác phẩm không nằm ở giá tiền bán tranh mà sự yêu mến của công chúng, của đồng nghiệp, của những nhà sưu tập. Đó là sự đánh giá chính xác cho giá trị của một tác phẩm. Hiện tranh của tôi đã có trong bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam ở Hà Nội và cũng được nhiều nhà sưu tập trong và ngoài nước quan tâm.
 
Tác phẩm “Đêm và tiếng vọng”
Tác phẩm " Đêm và tiếng vọng"

Hiện tại, ông sáng tác nhiều không?

- Thường để cho ra đời một đứa con tinh thần tôi phải thai nghén rất lâu, mỗi năm có khi chỉ một hai bức, thường là khổ lớn (2 mét x 2 mét), cũng có năm không vẽ được bức nào. Tôi không cầu toàn, nhưng tranh cũng là người nên ngoài yếu tố hiểu cần phải có cảm xúc và sự rung cảm. Cũng có người hỏi tôi sao không vẽ tranh souvenir (tranh lưu niệm) để kiếm tiền cho nhanh? Nhưng mỗi người có một sự lựa chọn khác nhau.

 
“…Bỗng nhiên tình cờ hôm nay được ngồi giữa chiếu rượu, vây bọc bởi cái thế giới vừa hư vừa thực, vừa chạm được vừa siêu hình của một miền Tây Nguyên rất riêng tư của Nguyễn Thanh Sơn… Rõ ràng Sơn đang muốn đi về phía chân trời của siêu thực. Một thứ siêu thực buồn bã mang đầy nỗi nhớ nhung về những buôn làng đang hao mòn dần truyền thuyết xa xưa… Tôi tin rằng Sơn đã mua đúng một mảnh đất cho riêng mình và sẽ còn đi sâu, xa hơn nữa vào những mộng tưởng đầy huyền hoặc của Tây Nguyên…” (cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn).
Ông có thể chia sẻ đôi chút về quan niệm của mình trong sáng tạo nghệ thuật?

- Với tôi, nghệ thuật là vô vị lợi. Thai nghén bằng chính cái tâm thì sẽ có cái phúc. Khi mình vẽ ra bức tranh thì mình phải biết yêu nó trước, như vậy thì người khác mới yêu. Hãy vẽ bằng tình yêu của mình chứ không phải bằng tình yêu của người khác. Bức tranh có giá trị lớn vì có tình yêu thực sự. Bạn tin không, hiện tôi vẫn ở nhà thuê. Nhưng tôi hạnh phúc vì có người từ nửa vòng trái đất vẫn tìm đến tôi mua tranh. Hạnh phúc là khi có thêm một người nữa yêu tranh của mình.

Xin cảm ơn ông và chúc ông một năm mới nhiều thành công hơn nữa!

- Cảm ơn Báo Gia Lai đã có tổ chức một cuộc trò chuyện thú vị và đã tạo cầu nối cho tôi với độc giả của Gia Lai. Xin được gởi lời chúc AN KHANG-THỊNH VƯỢNG trong năm mới đến độc giả và các đồng nghiệp của tôi ở Pleiku thân thương.
Phương Duyên (thực hiện)
http://baogialai.com.vn/channel/9044/201502/hoa-si-nguyen-thanh-son
VANDANBNN giới thiệu tham khảo.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét