Thứ Bảy, 27 tháng 5, 2017

BIÊN NIÊN SỬ THĂNG LONG – HÀ NỘI / DANH NHÂN THĂNG LONG ĐỜI NHÀ TRẦN MỘT NHÂN CÁCH THANH CAO VÀ CƯƠNG TRỰC: NHÀ GIÁO CHU VĂN AN / Nhà giáo NGUYỄN XUÂN TƯ



BIÊN NIÊN SỬ
THĂNG LONG – HÀ NỘI
DANH NHÂN THĂNG LONG ĐỜI NHÀ TRẦN
MỘT NHÂN CÁCH THANH CAO VÀ CƯƠNG TRỰC:
NHÀ GIÁO CHU VĂN AN
Nhà giáo NGUYỄN XUÂN TƯ
  

Chu Văn An, hiệu là Văn Trinh, người làng Quang (xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Tp. Hà Nội ngày nay), một làng ở phía Nam kinh thành Thăng Long, cách trung tâm kinh thành chừng 3 dặm đường (dưới 5km). Ông là một bậc túc nho có học vấn uyên thâm, đức tính thanh cao và cương trực.
Làng Quang không những nổi tiếng vì có một nhà nho đạo cao đức trọng mà còn nổi tiếng về một đặc sản: quả vải làng Quang có cùi dầy và giòn, vị ngọt đậm đà, được cả vùng kinh thành và các vùng lân cận biết tiếng và đã đi vào ca dao để được truyền tụng trong cả nước:
“Vải Quang, húng Láng, ngổ Đầm
Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây”.
Chu Văn An làm quan đời Trần, đồng thời với các vị đại thần tài cán trí lực, hết lòng giúp nước như : Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn. Riêng Chu Văn An làm quan trải qua 3 đời vua: Trần Nhân Tông (1314-1328), Trần Hiến Tông (1329-1341), Trần Dụ Tông (1341-1400).
Chu Văn An đỗ tiến sĩ đời vua Trần Minh Tông. Trong triều, ông giữ chức Tư Nghiệp Quốc Tử Giám, đào tạo được nhiều lớp trẻ tài năng phục vụ đất nước, trong đó có Tể tướng Phạm Sư Mạnh, Thái tử Hạo – sau là vua Trần Dụ Tông, các vị quan chức khác và nhiều người làm nghề dạy học hoặc lương y.
Chu Văn An được cả nước, từ vua, quan đến thứ dân, tôn trọng cả về tài và đức.
Tương truyền rằng, một buổi sáng đẹp trời ở kinh thành Thăng Long, ông và một vài môn sinh đi thăm phố phường. Đến cửa  Đại Hưng (tức cửa Nam), người và xe đi lại tấp nập, mọi người phải nhường bước nhau mới có lối đi. Trong khi đó, một chú bé bán kẹo vội đứng ra một bên, nhường đường đi cho thầy trò thầy Chu. Chú bé dừng lại và vái chào một cách cung kính:
-Con lạy cụ Nghè ạ! Con lạy các thầy Khóa ạ!
Thì ra chú bé biết đó là nhà giáo Chu Văn An và các môn sinh của ông đi thăm phố phường. Chu Văn An lập tức dừng lại, chắp tay và cũng cung kính vái chào chú bé.
-Ta chào cháu và có lồi khen cháu đã nhường đường đi cho thầy trò ta. Cháu khá lắm!
Các môn sinh đi theo cũng dừng lại và đưa mắt nhìn nhau lấy làm lạ, và tự nhiên cũng chắp tay chào lại chú bé bán kẹo. Thầy trò dạo bước thêm một đoạn dường nữa rồi trở về trường. Các môn sinh đều có ý muốn hỏi thầy một việc gì đó nhưng không ai dám nói. Thầy Chu biết tình hình ấy nên hỏi:
-Các anh có điều gì băn khoăn thì cứ nói đi! Ta sẵn sàng nghe đây!
Các môn sinh cứ đùn đẩy nhau nên không ai dám nói câu gì. Cuối cùng, anh Trưởng tràng mạnh dạn thưa trình sau một cái vái thầy một cách rất cung kính:
-Thưa thầy sáng nay ở cửa Đại Hưng, chúng con thấy thầy vái chào một cậu bé bán kẹo nghèo hèn và không có học, chúng con e rằng sẽ có người dị nghị và e rằng việc đó sẽ tổn hại cho thanh danh nhà nho…
Trưởng tràng không nói thêm được nữa thì thầy Chu ung dung đáp lời:
-Các anh thấy ta vái chào chú bé đó mà lấy làm lạ ư? Sao không thấy một trẻ nghèo không được cắp sách đến trường mà còn biết chữ “lễ” khi vái chào thầy trò ta, những người không hề quen biết với chú. Thế thì chúng ta được học chữ “lễ” bao nhiêu năm nay, há lại không biết cách giữ “lễ” với chú bé ấy hay sao? Nếu không biết chào lại chú bé, chúng ta sẽ mang tiếng là vô lễ đấy!
Các môn sinh liền nhất tề vái thầy và đồng thanh “dạ”, như đã hiểu ý của thầy. Thế là buổi sáng hôm ấy, tất cả các môn sinh của thầy Chu đã được thụ giáo một bài học rất đơn giản nhưng vô cùng sâu sắc về chữ “lễ” từ người thầy đáng kính của mình.
Triều vua Dụ Tông, nhà vua nhu nhược, phép nước không nghiêm, việc triều chính trễ nãi, làm cho dân tình rất cực khổ. Bọn quyền thần dựa vào thế lực nhà vua làm nhiều điều trái đạo mà không ai dám can gián. Lúc bấy giờ Thái Thượng Hoàng Minh Tông đã mất, các bậc cựu thần như Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung Ngạn cũng đã mất cả. Vua Dụ Tông lại ham ăn chơi, việc chính trị bị trễ nãi và suy đồi. Bọn gian thần ngày một lộng hành. Khi ấy, Chu Văn An đang làm quan tại triều, thấy chính trị bị bại hoại, xã tắc nag3 nghiêng, liền dâng sớ lên xin vua chém bảy kẻ quyền thần (người đời gọi là Thất trảm sớ). Nhà vua nhu nhược không nghe, Chu Văn An liền bỏ quan, về ở ẩn ở búi Chí Linh.
Sau ông về quê (làng Quang) mở trường dạy học. Học trò rất mến mộ tài năng và đạo đức của thầy Chu nên đến theo học rất đông. Các học trò cũ đã thành danh cũng thường đến thăm thầy. Vua Dụ Tông không đến được, cũng đã cử các quan đến thăm thầy và xin ý kiến chỉ bảo của thầy.
Một buổi sáng sớm từ kinh thành Thăng Long, một chiếc cáng đơn sơ do hai người phu khiêng và hai người lính hộ vệ đưa quan Tể tướng Phạm Sư Mạnh đi về phía Nam, khác với những lần quan Tể tướng đi kinh lí các địa phương, có kiệu sơn son thiếp vàng, có trống dong cờ mở, có tiền hô hậu ủng rất trang nghiêm. Hôm nay, Tể tướng theo lệnh vua đến thăm và mời thầy Chu trở lại kinh thành để giúp vua trị nước. Cáng đi đến cổng làng Quang thì dừng lại. Hai người lính theo hầu cũng ở lại cổng làng, chỉ một mình Tể tướng đi vào nhà thầy. Qua cái sân hẹp, Tể tướng bước lên thềm, để lại đôi giày ở ngoài cửa rồi bước vào trong nhà. Bấy giờ người ta mới kịp nhận ra rằng hôm nay, Tể tướng trang phục rất giản dị, chỉ có áo the thâm quần trắng, khăn nhiễu tím như người thường dân, Tể tướng vái chào thầy Chu:
-Con lạy thầy ạ! Hôm nay Hoàng Thượng cho con về thăm thầy và có điều xin trình giáo thầy ạ!
Thầy Chu từ chiếc sập gỗ cũ bước xuống đáp lễ:
-Kính chào quan Tể tướng, xin mời quan an tọa!
Tể tướng tỏ vẻ kính sợ, liền đỡ thầy Chu ngồi vào chỗ cũ trên sập, còn mình thì chắp tay đứng bên thầy.
Thầy chỉ tay vào sập và mời tiếp:
Xin mời quan Tể tướng an tọa!
Phạm Sư Mạnh lại vái chào thầy và thưa:
-Thưa thầy, con không dám vô lễ, con xin được đứng để hầu thầy ạ!
Thầy Chu gọi người nhà mang một chiếc ghế để mời khách ngồi. Tể tướng tự đỡ chiếc ghế rồi đặt ở phía ngoài chiếc sập, vái thầy một vái nữa rồi mới dám ngồi xuống ghế.
-Thưa thầy, hôm nay Hoàng Thượng cho con về thăm thầy vì ngài không đi được và có ý để thỉnh giáo thầy ạ!
Thầy Chu từ tốn hỏi thăm sức khỏe Hoàng thượng và Hoàng gia, hỏi thăm sức khỏe của Tể tướng và gia đình, và cũng không quên hỏi thăm sức khỏe của các quan đại thần trong triều.
Người nhà thầy Chu đem trà và trầu ra tiếp khách, Tể tướng tự mình rót nước mời thầy và dâng trầu lên cho thầy, rồi sau cũng không dám uống nước và ăn trầu cùng với thầy.
Đến lượt thầy Chu mời, Phạm Sư Mạnh giơ tay cung kính đỡ chén trà và miếng trầu từ tay thầy học cũ.
-Nào xin quan Tể tướng cho kẻ bần nho biết Hoàng thượng có ngỏ ý gì để cho cựu thần này nghênh tiếp!
Phạm Sư Mạnh lại giật mình kinh hãi trước sự cung kính của thầy, liền đứng dậy vái chào và thưa:
-Thưa thầy, nhờ ơn đức của thầy dạy bảo, nay con được làm quan trong triều nhưng vẫn là học trò của thầy, xin thầy cứ gọi con là Mạnh như ngày nào con được thụ giáo với thầy, thì con mới dám hầu chuyện thầy ạ!
Thầy Chu vội kéo Tể tướng ngồi vào ghế, rồi vui vẻ khoan thai ngồi tiếp người học trò cũ nay đã thành đạt, làm quan tới chức Tể tướng, đứng đầu đình thần trong triều. Thầy cười rồi nói:
-Được! này anh Mạnh, anh vẫn nhớ đến tình nghĩa với thầy, thầy rất cảm kích. Nay Hoàng thượng truyền chỉ như thế nào, anh nói cho thầy biết!
-Thưa thầy, Hoàng Thượng xin tạ lỗi cùng thầy, xin được tha thứ. Lần này ngài cho con về thăm thầy cùng gia đình, và có lời thành kính mời thầy ra kinh đô để tiếp tục tham chính, giúp đỡ Hoàng thượng trong các công việc của triều đình. Xin thầy nhận lời để Hoàng thượng được vui lòng.
Thầy Chu có điều gì suy nghĩ, yên lặng ngồi nghe, sau đó khoan thai từ tốn đáp lại:
-Anh Mạnh về triều nhớ tâu với Hoàng thượng rằng: Thầy rất cảm kích trước lời thăm hỏi của ngài, còn việc mời thầy trở lại tham chính thì thầy xin cảm ơn Hoàng thượng và xin được tiếp tục ở lại quê nhà để dạy bảo bọn trẻ. Nay thầy đã tuổi già sức yếu, không thể kham nổi việc quân quốc trọng sự nữa. Xin Hoàng thượng thể tình lượng thứ cho.Cựu thần này xin kính chúc Hoàng thượng và triều đình mọi sự tốt lành để trăm họ được yên vui hưởng lộc nước.Câu chuyện giữa bậc thầy đáng kính trọng: Chu Văn An và người học trò cũ thành đạt: Tể tướng Phạm Sư Mạnh, cung kính và thân tình đã kéo dài đến gần cuối giờ Tị. Vị khách đứng lên vái thầy để về kinh.
Thầy mời khách tuần trầu và nước lần cuối rồi tiễn khách ra đến sân. Tể tướng Phạm Sư Mạnh lại cung kính vái chào thầy và đỡ thầy lên thềm nhà, rồi mới dám xỏ chân vào đôi giày của mình để ở thềm, lại vái thầy một lần nữa rồi mới ra về với niềm lưu luyến thấm đượm tình nghĩa thầy trò cao đẹp.
Tể tướng ra đến cổng làng, lên cáng để trở về kinh thành. Có lẽ hai người phu cáng và hai người lính theo hầu cũng phần nào hiểu được tấm lòng thành kính của quan Tể tướng đối với thầy học cũ, thầy Chu Văn An, một nhà giáo thanh cao và cương trực, đời đời là tấm gương lớn của nhân cách trong sáng, với đạo cao đức trọng ở đời.
(XT: Cựu giáo chức trường Chu Văn An – Hà Nội)

/Còn tiếp/ 
BIÊN NIÊN SỬ

THĂNG LONG – HÀ NỘI
Tác giả gửi bài/ vandanbnn gt



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét