Thứ Năm, 25 tháng 5, 2017

BIÊN NIÊN SỬ THĂNG LONG – HÀ NỘI MỘT NGHÌN NĂM VĂN HIẾN (1010 – 2010) / Phần 2/ Nhà giáo NGUYỄN XUÂN TƯ


BIÊN NIÊN SỬ
THĂNG LONG – HÀ NỘI
MỘT NGHÌN NĂM VĂN HIẾN (1010 – 2010)
/ Phần 2/
Nhà giáo NGUYỄN XUÂN TƯ
  

1831: Không còn địa danh Thăng Long.
Năm 1802, Nguyễn Ánh dứt được nhà Tây Sơn, thống nhất được cả đất nước, lấy niên hiệu là Gia Long, đặt quốc hiệu là Việt Nam, đóng đô ở Phú Xuân (Huế). Thành Thăng Long không còn là kinh đô của nước ta nữa. Đến đời vua Minh Mệnh (năm 1831), với lí do một nước không thể có hai kinh đô, nên đã sáp nhập huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, phủ Lí Nhân, phủ Thường Tín thành tỉnh Hà Nội. Từ đó cái tên Thăng Long không còn trên văn bản hành chính nữa nhưng vẫn tồn tại trong lòng người dân Việt Nam từ ngày khởi lập thành Thăng Long đến tận ngày nay.

1873: Thành Hà Nội thất thủ lần thứ nhất.
Theo Hòa ước 1862, ta phải nhường cho Pháp 3 tỉnh miền Đông xứ Nam Kì: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường. Quân Pháp lại có ý đồ chiếm xứ Bắc kì. Phái viên của giặc Pháp là Đại úy Francis Garnier được chính quyền Pháp ở Nam kì (lúc đó còn gọi là Súy phủ Sài Gòn) điều ra Bắc kì, liền đưa thư trách cứ Tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Tri Phương làm cản trở việc thông thương của người Pháp. Y lập kế hoạch đánh thành Hà Nội. Tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương nặng và bị bắt nhưng quyết không chịu dùng thuốc và nhịn ăn mà chết. Đây là lần thứ nhất thành Hà Nội thất thủ và là lần thứ 8, Thăng Long rơi vào tay quân xâm lược. Rồi sau đó, phía Pháp trả lại cho ta thành Hà Nội và các tỉnh ở Bắc Kì mà chúng đã chiếm được, để chuẩn bị kí Hòa ước 1874 (theo hiệp ước đó, ta phải nhường cả 6 tỉnh Nam Kì cho nước Pháp)

1882: Thành Hà Nội thất thủ lần thứ hai.
Tổng đốc thành Hà Nội là Hoàng Diệu thấy quân Pháp đưa binh thuyền ra Bắc thì đã có ý phòng bị quân giặc đánh phá. Chỉ huy quân Pháp là Đại tá Henri Rivière liền đưa tối hậu thư bắt ta phải giải binh và các quan văn võ Việt Nam phải ra đợi lệnh ở Đồn Thủy (đại bản doanh của Pháp). Tổng đốc Hoàng Diệu không chịu và ra sức chống cự. Quân Pháp đánh phá và chiếm lấy kinh thành. Tổng đốc Hoàng Diệu tuẫn tiết ở Võ Miếu.Đây là lần thứ hai, thành Hà Nội bị thất thủ và là lần thứ chín, Thăng Long rơi vào tay quân xâm lược. Sau đó Pháp trả lại thành Hà Nội nhưng vẫn đóng quân ở trong Hành cung để chờ nghị hòa.
 Năm sau (1883) vua ta phải kí hòa ước với Pháp và thừa nhận quyền cai trị của Pháp trên toàn cõi Việt Nam.

 1940: Thành Hà Nội lại thêm ách thống trị của phát xít Nhật.
Năm 1940, phát xít Nhật nhảy vào chiếm đóng Đông Dương để chuẩn bị hất cẳng thực dân Pháp. Thế là Hà Nội lại phải chịu thêm sự đô hộ của phát xít Nhật. Giặc Nhật cùng với giặc Pháp ra sức vơ vét, bóc lột tài sản của nhân dân ta, khiến cho nhân dân ta vô cùng cực khổ. Đây là lần thứ 3 Hà Nội bị chiếm đóng và là lần thứ mười thành Thăng Long bị quân xâm lược thống trị.

 1945: Thành Hà Nội và Tổ quốc Việt Nam được giải phóng.
Ngày 19/08/1945, nhân dân ta nổi dậy, làm cuộc khởi nghĩa đánh tan quân giặc Pháp và Nhật, giành lại nền độc lập sau gần 100 năm bị giày xéo dưới ách thống trị tàn bạo của quân giặc. Hà Nội trở thành thủ đô của nước Việt Nam độc lập. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Chủ tịch Hồ Chí Minh long trọng Đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Hà Nội được giải phóng. Nhân dân Việt Nam vô cùng hân hoan chào đón chế độ dân chủ mới, vô cùng tự hào với hào khí và truyền thống của Thăng Long – Hà Nội anh hùng.

1946-1954: Thủ đô Hà Nội bị tạm chiếm.
Ngày 19/12/1946, giặc Pháp gấy hấn ở Hà Nội và nhiều nơi khác, tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Quân giặc đánh chiếm thủ đô Hà Nội, tàn phá kinh thành và mở rộng vùng tạm bị chiếm, mưu đồ đô hộ nước ta một lần nữa. Nhân dân thủ đô tản cư ra các vùng giải phóng để xây dựng lực lượng kháng chiến chống giặc Pháp xâm lược. Quân giặc chiếm được thủ đô ta nhưng không chiếm được lòng yêu nước của nhân dân ta. Thủ đô Hà Nội trong chín năm bị tạm chiếm đóng, không hề chịu khuất phục quân thù, đã nhiều phen “đánh địch trong lòng địch” khiến cho chúng phải lao đao khốn khổ và không thực hiện được ý đồ xâm lược của chúng. Đây là lần thứ 4, Hà Nội bị thất thủ và là lần thứ 11 (cũng là lần cuối cùng), thành Thăng Long bị ngoại bang chiếm đóng.

1954: Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Thủ đô Hà Nội được giải phóng.
Nhân dân Việt Nam quyết tâm kháng chiến giành độc lập cho Tổ quốc, và sau 9 năm trường kì kháng chiến gian khổ, đã chiến thắng anh dũng và oanh liệt. Chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 đã kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến của nhân dân ta chống thực dân Pháp, và ngày 10/10/1954, nhân dân thủ đô Hà Nội cùng với nhân dân cả nước vui mừng chào đón đoàn quân chiến thắng vào tiếp quản thành phố. Thủ đô Hà Nội lại càng rực rỡ hơn khi trở lại là Thủ đô của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

1966-1972: Thủ đô Hà Nội bị đế quốc Mĩ đánh phá ác liệt.
Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống đế quốc Mĩ xâm lược ngày càng giành được nhiều thắng lợi. Đế quốc Mĩ ngày càng sa lầy ở Việt Nam, liền đem không quân ra đánh phá rất ác liệt miền Bắc Việt Nam. Trong khoảng 7 năm trời leo thang chiến tranh ra miền Bắc (1966-1972), quân giặc tàn phá thủ đô Hà Nội và nhiều nơi trên miền Bắc với sức hủy diệt ghê gớm và với dã tâm đưa nước Việt Nam trở lại thời kì đồ đá. Nhưng nhân dân ta, với tinh thần và ý chí “không có gì quý hơn Độc lập – Tự do” (lời Hồ Chủ tịch) đã anh dũng đánh Mĩ đến cùng.
Đặc biệt trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, nhân dân ta đã làm nên chiến thắng vĩ đại trên bầu trời Hà Nội: “Một trận Điện Biên Phủ trên không” đã chấm dứt vĩnh viễn ý đồ xâm lược của đế quốc Mĩ, đem lại hòa bình cho đất nước Việt Nam.

1976: Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam thống nhất.
Hiệp định Paris được kì kết ngày 27/1/1973, đã công nhận nền độc lập và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, và buộc đế quốc Mĩ phải rút quân về nước. Đó là một thắng lợi hết sức to lớn của nhân dân ta. Chiến dịch Hồ Chí Minh đã kết thúc thành công vẻ vang ngày 30/4/1975, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Năm 1976, thủ đô Hà Nội trở thành thủ đô của nước Việt Nam Độc lập, Thống nhất, Dân chủ và Hòa bình: Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

2010: Đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Trải qua 1000 năm với bao thăng trầm của thời cuộc, qua bao biến cố của lịch sử, Thăng Long – Hà Nội tự hào là thủ đô anh hùng của nước Việt Nam anh hùng và thêm tự hào là “Thành phố Hòa bình”, danh hiệu mà Tổ chức Giáo dục Khoa học – Văn hóa của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã trân trọng vinh danh thủ đô ta.
Năm 2010, nhân dân Hà Nội cùng với nhân dân cả nước tổ chức Đại lễ kỉ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đó là một sự kiện vĩ đại về phương diện chính trị, lịch sử và văn hóa của Tổ quốc Việt Nam về sự trường cửu và thịnh vượng của thủ đô vinh quang của chúng ta.

“Ta nhớ thủ đô, tuổi nghìn năm,
Qua bao biến cố, trải thăng trầm.
Nào ai báo đáp ơn tiên tổ,
Tô điểm non sông đẹp bội phần”.

NHỚ THỦ ĐÔ

1.
Ta nhớ Thủ đô: Có rồng bay,
Hồn thiêng sông núi hiện ban ngày.
Hanh thông vận nước thêm hưng thịnh,
Trăm họ dài lâu hưởng phúc này.

2.
Ta nhớ Thủ đô: Gió Cổ Ngư,
Hồ Tây, Trúc Bạch – Nước ngang bờ
Trong xanh ngọc bích in mây trắng,
Mát rượi lòng ai, khách viếng đô.

3.
Ta nhớ Thủ đô: Có núi Nùng,
Bên dòng sông Nhị nước tươi hồng,
Gió mưa gội rửa bao năm tháng,
Núi giấu mình đâu, để lẻ sông?

4.
Ta nhớ Thủ đô: Chùa Một Cột,
Giữa hồ, lặng đứng, vững nghìn năm.
Hình hài thanh khiết, hồn cao thượng,
Mà dáng trầm ngâm, sáng cái tâm.

5.
Ta nhớ Thủ đô: Đẹp Hồ Gươm
Lê Vương một thuở trả ơn thần
Bốn mùa duyên dáng làn gương sáng
Nước biếc hằng soi bóng Ngọc Sơn.

6.
Ta nhớ Thủ đô: Trỗi Cột Cờ
Vươn mình dãi nắng với dầm mưa
Hiên ngang mười trượng: Trong sương sớm
Cờ đỏ vờn bay, lộng cố đô.

7.
Ta nhớ Thủ đô: Trại Hàng Hoa
Bên vườn Bách Thảo, đẹp như mơ.
Xưa sao thơ mộng, giờ hiu quạnh,

Núi Khán nằm trơ với gió mưa!

8.
Ta nhớ Thủ đô: Hoa chợ Tết,
Một trời trăm sắc, rực Đồng Xuân.
Có em lúng liếng cười nghiêng nón
Đâu biết người say: Hoa, mĩ nhân?

9.
Ta nhớ Thủ đô: Mùi hoa sữa
Hồ Thuyền Quang bên Phố Nguyễn Du.
Say trong ngây ngất, hồn man mác,
Ngào ngạt hương tình, gió thoảng đưa.

10.
Ta nhớ Thủ đô: Tòa Văn Miếu
Tôn vinh thanh lịch gác Khuê Văn
Nhà bia Tiến sĩ, niềm kiêu hãnh
Bao lớp nhân tài đượm nét son.

11.
Ta nhớ Thủ đô: Năm cửa ô,
Ngựa xe rộn rã những đường xưa.
Mà nay bát ngát nhà cao đẹp
Đi giữa phồn hoa, luống ngẩn ngơ.

12.
Ta nhớ Thủ đô: Có Ngọc Hồi
Đống Đa báo tiệp – tiếp tin vui
Quang Trung đại thắng mùa xuân ấy
Hào khí Thăng Long sáng ngất trời.

13.
Ta nhớ Thủ đô: Nắng Ba Đình
Dát vàng trên thảm cỏ tươi xanh
Tuyên ngôn Độc lập từ thu ấy
Rạng rỡ năm châu Tổ quốc mình!

14.
Ta nhớ Thủ đô: Rực lửa hồng,
Điện Biên Phủ thắng – Trẫn trên không.
Thành tro bụi pháo đài bay Mĩ,
Vang khải hoàn ca, rực chiến công!

15.
Ta nhớ Thủ đô: Tuổi nghìn năm
Qua bao biến cố, trải thăng trầm…
Nào ai báo đáp ơn Tiên Tổ,
Tô điểm non sông đẹp bội phần!

Mời đọc tiếp,
TRIỀU ĐẠI NHÀ LÍ, VƯƠNG TRIỀU ĐẦU TIÊN
TRÊN ĐẤT THĂNG LONG (1010 – 1225)
VANDANBNN giới thiệu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét