Thứ Sáu, 26 tháng 5, 2017

BIÊN NIÊN SỬ THĂNG LONG – HÀ NỘI / TRIỀU ĐẠI NHÀ LÍ, VƯƠNG TRIỀU ĐẦU TIÊN TRÊN ĐẤT THĂNG LONG (1010 – 1225)/ Nhà giáo NGUYỄN XUÂN TƯ



BIÊN NIÊN SỬ
THĂNG LONG – HÀ NỘI
TRIỀU ĐẠI NHÀ LÍ, VƯƠNG TRIỀU ĐẦU TIÊN
TRÊN ĐẤT THĂNG LONG (1010 – 1225)
Nhà giáo NGUYỄN XUÂN TƯ


Tiểu dẫn: 
Nhà Lí làm vua nước ta trải qua 215 năm (1010-1225) với 9 đời vua: Từ Lí Công Uẩn (1010-1028), đến Lí Chiêu Hoàng (1225). Trong 215 năm này chỉ có 4 đời vua đầu của triều đại nhà Lí, đất nước ta được hưng thịnh và vẻ vang. Đó là những năm đầu của thời kì hưng quốc của giang sơn Đại Việt; Còn trong 5 đời vua kế tiếp, thì vận nước không còn được hanh thông như trước, nhưng vẫn giữ được nền độc lập cho Tổ quốc.

1/ Địa danh Thăng Long Thành: Đến hôm nay đã có tròn 1000 năm lịch sử. Cái tên Thăng Long thành cao quý và linh thiêng gắn liền với lịch sử dân tộc ta, kể từ triều đại nhà Lí mà khởi đầu là một vị minh quân của thế kỉ XI: Vua Thái Tổ nhà Lí, tức là Lí Công Uẩn.

Lí Công Uẩn người làng Cổ Pháp, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, là con nuôi nhà sư Lí Khánh Vân từ năm lên 3 tuổi. Lớn lên, Công Uẩn vào kinh đô Hoa Lư làm quan với nhà Tiền Lê. Do thông minh và tài trí nên làm đến chức Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ (tức là chức quan trông coi việc binh bị của triều đình). Khi vua Ngọa triều Lê Long Đĩnh mất, chính sự nhà Tiền Lê khi đó đã cực kì suy vi, không được lòng dân tin cậy. Đình thần, trong đó có vị quan Đào Cam Mộc và nhà sư Vạn Hạnh tôn Lí Công Uẩn lên làm vua, tức là Vua Thái Tổ nhà Lí (1010-1028).

Thái Tổ thấy đất Hoa Lư chật hẹp, không có thể mở mang thành nơi đô hộ, liền quyết định dời đô về Đại La Thành (đó là thủ đô Hà Nội ngày nay). Trong chiếu dời đô có đoạn viết: “Thành Đại La ở giữa khu vực đất trời, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa Nam Bắc Đông Tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì thấp trũng, tối tăm;muôn vật hết sức tươi tốt, phồn thịnh, xem khắp nước ta, đó là nơi thắng địa. Thực là chỗ hội tụ quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô, kinh sư của muôn đời”. Điều này chứng tỏ Lí Côn Uẩn có con mắt nhìn xa trông rộng, có tư duy sáng suốt của một nhà chiến lược tài năng.
Tương truyền rằng, khi đến Đại La Thành thì thấy có rồng vàng bay lên, nhà vua cho đó là điềm tốt, liền đổi tên Đại La Thành ra Thăng Long Thành. Cái tên Thăng Long Thành có từ thời kì đó (tháng 8-1010).
Lí Thái Tổ khởi công xây dựng Thăng Long Thành thành một kinh thành kiên cố, tráng lệ, có tường cao, hào sâu với 4 cửa, Đông, Tây, Nam, Bắc ở bốn phía. Nhà vua lo sửa sang mọi việc trong nước, do có tài trị nước, thời vua Lí Thái Tổ được thanh bình thịnh vượng; việc đối nội, đối ngoại cũng đều ổn định. Trong nước, nhân dân được yên vui làm ăn trong cảnh thanh bình. Ở phía Bắc, nhà Tống cũng không sinh sự gì lôi thôi với nước ta, ở phía Nam các nước Chiêm Thành và Chân Lạp đều sang triều cống.
Sau khi vua Lí Thái Tổ qua đời (1010-1028), các vua nối nghiệp như Lí Thái Tông (1028-1054), Lí Thánh Tông (1054-1072), Lí Nhân Tông (1072-1127), cũng đều là những vị vua tài đức, trong thì lo việc yên dân, thương dân; ngoài thì lo việc đối phó với ngoại bang ở cả phương Bắc và phương Nam. Các quan có nhiều người tài giỏi như Thái sư Lí Đạo Thành hết lòng lo việc  nước; trong thì lo sửa sang việc chính trị, ngoài thì lo việc đánh nhà Tống, phá quân Chiêm, làm cho đất nước được yên bình. Khi nhà Tống có ý đồ xâm lược nước ta thì các vị tướng tài của ta như Lí Thường Kiệt, Tông Đản đem quân sang đánh và chiếm Châu Khâm, Châu Liêm và Châu Ung của nước Tầu, gây cho chúng đại bại, rồi sau, ta rút quân về.
Năm 1076, quân nhà Tống sang xâm lược nước ta, vua Lí Nhân Tông sai danh tướng Lí Thường Kiệt đánh chặn quân nhà Tống ở sông Như Nguyệt (sông Cầu ngày nay, ở Bắc Ninh). Ta thắng lớn như quân Tống quyết tràn sang. Để giữ yên lòng quân lính, Lí Thường Kiệt truyền rằng được thần nhân ban cho một bài thơ:

“Nam quốc sơn hà nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như là ngỗ nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đắng hành khan thủ bại hư”.

Dịch là:
Sôn núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận ở sách trời.
Lũ giặc cớ sao sang xâm lược.
Rồi bay sẽ thất bại tơi bời.

Quân lính truyền nhau mấy câu thơ này, ai nấy đều nức lòng đánh giặc. Quân nhà Tống không tiến lên được. Vua nhà Tống thấy quân mình đưa sang hơn 8 vạn, sau chết đến quá nửa nên cho rút quân về.
Nước ta từ thời vua Tiên Hoàng nhà Đinh đặt Quốc hiệu là Đại Cồ Việt. Trải qua nhà Đinh, nhà Tiền Lê đến đầu triều Lí đều giữ tên nước là Đại Cồ Việt (nước Việt rất to lớn). Đến khi vua Lí Thánh Tông lên ngôi (1054) mới đổi quốc hiệu là Đại Việt.
Về mặt văn hóa, nhà Lí tôn sùng đạo Phật,nhiều chùa được xây dựng trong cả nước. Ở kinh thành, năm 1048, vua Lí Thái Tông cho xây chùa Diên Hựu, tức là chùa Một Cột (di tích còn lại đến ngày nay). Năm 1069, vua Lí Thánh Tông lập Văn Miếu, đúc tượng Chu Công, Khổng Tử và 72 tiên hiền đạo Nho để thờ phụng. Việc văn học được chú trọng. Năm 1075, mở khoa thi Tam trường (đó là khoa thi đầu tiên ở nước ta) để chọn người có học ra làm quan. Năm sau (1076) vua Lí Nhân Tông lập Quốc Tử Giám (trường đại học đầu tiên của nước ta), chọn những người có tài văn học ra giảng dạy. Năm 1086, nhà vua lại mở khoa thi Hàn Lâm để chọn người có tài vào Hàn Lâm Viện và bổ làm Hàn Lâm Học sĩ.
Đó là thời kì vẻ vang của lịch sử Đại Việt với 4 đời vua đầu của triều đại nhà Lí (Thái Tổ, Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông), những vị minh quân có tài, có đức đã mở mang mọi việc trong nước được thịnh vượng, giữ vững được nền độc lập của Tổ quốc và làm rạng rỡ non sông Đại Việt trong khoảng 120 năm (chính thức là từ 1010 đến 1127) mở đầu cho thời đại Thăng Long hưng thịnh của nhân dân ta.
2/ Gần 100 năm sau (chính thức là từ năm 1128 đến năm 1225): có 5 đời vua Lí nối tiếp. Đó là: Lí Thần Tông (1128-1138); Lí Anh Tông (1138-1175); Lí Cao Tông (1176-1210); Lí Huệ Tông (1211-1225) và Lí Chiêu Hoàng (1225).
Trong thời gian này, nước Đại Việt vẫn được yên bình nhưng không được hưng thịnh như bốn người vua trước.
Lí Thần Tông lên ngôi (1128) được các đại thần trung nghĩa giúp việc nước, đã đại xá cho các tù phạm và trả lại ruộng đất đã tịch thu ngày trước. Quân lính thì cho đổi phiên, cứ lần lượt 6 tháng một phiên, được về làm ruộng. Như vậy, việc binh không cản trở việc canh nông. Giặc giã thời bấy giờ cũng ít. Đôi khi có người Châu Lạp và người Chiêm Thành sang quấy nhiễu nhưng quan quân nhà Lí đã sớm đánh dẹp bọn xâm lược này.
Lí Anh Tông lên nối ngôi (1138), từ lúc mới 3 tuổi, nên triều chính ở trong tay Thái hậu và gian thần Đỗ Anh Vũ. Lúc bấy giờ có nhiều giặc giã nổi lên, may có Đại thần Tô Hiến Thành giúp nước tận tụy, dẹp yên các bọn giặc, lập được nhiều công to: Bắt được giặc Thân Lợi, phá được giặc Ngưu Hống và dẹp yên được giặc Lào. Tô Hiến Thành được phong làm chức Thái úy coi giữ việc binh. Từ đó, binh thế nhà Lí lại phấn chấn lên. Ông giỏi việc võ và lại chăm việc văn, năm 1175 được nhà vua phong làm Thái phó Bình chương Quân quốc Trọng sự và gia phong Vương tước.
Đến đời Lí Cao Tông làm vua từ năm 1176 (lúc chưa đầy 3 tuổi), Tô Hiến Thành làm Phụ chính, đã hết lòng tận trung với nước, nhưng sau khi ông mất, triều đình không được ổn định. Vua Cao Tông khi lớn lên lại ham chơi, không lo nổi việc nước nên nhân dân trăm họ vô cùng cực khổ. Ngoài biên thùy phía Bắc có quân Tầu sang quấy nhiễu, phía Nam có quân Chiêm Thành sang đánh phá. Trong triều lại có nội loạn, vua Cao Tông chạy lên vùng đất Phú Thọ, còn Thái tử Sam thì chạy về vùng đất Thái Bình, vào ở nhà Trần Lí (làm nghề đánh cá, gốc làng Tức Mạc, tỉnh Nam Định). Thái tử Sam lấy con gái Trần Lí, rồi phong cho Trần Lí và bà con Trần thị các quan tước lớn. Anh em họ Trần mộ quân giúp vua về kinh dẹp loạn rồi lên Quy Hóa rước vua Cao Tông về cung. Cao Tông cho quan quân về Thái Bình đón Thái tử Sam.
Khi Cao Tông mất thì Thái tử Sam lên nối ngôi (1211), tức là Lí Huệ Tông, rồi sai quan quân về Thái Bình rước Trần thị về cung, phong làm Nguyên phi và phong cho anh và cậu của Nguyên phi các quan tước có quyền hành lớn trong triều. Do bà Thái hậu ghét bỏ Trần thị nên Huệ Tông và Trần thị phải rời bỏ kinh thành. Anh em họ Trần đến hộ giá và đưa nhà vua về cung. Trần thị được phong làm Hoàng hậu. Huệ Tông sau đó phải bệnh nên việc chính trị đều ở trong tay họ Trần. Huệ Tông và Hoàng hậu chỉ sinh được hai người con gái là Thuận Thiên Công chúa và Chiêu Thánh Công chúa. Huệ Tông bèn lập Chiêu Thánh Công chúa làm Thái tử, lúc này mới 7 tuổi. Tháng 10-1224, Huệ Tông truyền ngôi cho Chiêu Thánh và vào ở trong chùa.
Cuối năm 1224, Chiêu Thánh Công chúa lên ngôi, tức là vua Lí Chiêu Hoàng. Bấy giờ quyền chính ở cả Trần Thủ Độ, em họ Hoàng hậu Trần thị, giữ chức Điện tiền Chỉ huy sứ. Trần Thủ Độ âm mưu với Trần Thái hậu, ngày đêm tìm cách lấy cơ nghiệp nhà Lí, nên cho cháu là Trần Cảnh vào cung giữ chức Chính thủ để hầu hạ Chiêu Hoàng. Cuối năm 1225, Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh và truyền ngôi cho chồng.Thế là chấm dứt nhà Lí sau 215 năm trị vì đất nước với 9 đời vua nối nghiệp, từ Lí Thái Tổ đến Lí Chiêu Hoàng (1010-1225).
Nhà Lí có công rất lớn đối với đất nước Đại Việt, làm cho nước ta trở thành một nước cường thịnh, giữ vững được nền độc lập. Ngoài thì đánh dẹp các nước đến xâm lược (giặc Tầu ở phái Bắc, giặc Chiêm Thành và Chân Lạp ở phía Nam), trong thì chỉnh đốn việc văn trị, võ công, sửa sang pháp luật, chăm lo đời sống nhân dân. Chỉ tiếc rằng, các vua Lí đời sau, do yếu kém trong sự nghiệp chính trị nên không tiếp nối được 120 năm hưng thịnh của tiền vương, nhưng vẫn giữ vững được nền độc lập, vẻ vang của đất nước.
Để kết bài, xin có mấy câu cảm hứng:

“Ta nhớ Thăng Long, có Rồng bay,
Hồn thiêng sông núi hiện ban ngày.
Hanh thông vận nước thêm hưng thịnh,
Trăm họ dài lâu hưởng phúc này”.

/ Mời đọc tiếp, 
RỦ NHAU CHƠI KHẮP LONG THÀNH/
Bài viết Nguyễn Xuân Tư/ tác gải gửi bài.
VANDANBNN giới thiệu.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét