Thứ Năm, 15 tháng 6, 2017

HẠT CÁT DIỆU SINH – NGƯỜI ĐÀN BÀ “CHƠI THƠ” MÊ ĐẮM/ NGUYỄN VĂN HÒA



HẠT CÁT DIỆU SINH – NGƯỜI ĐÀN BÀ “CHƠI THƠ” MÊ ĐẮM
NGUYỄN VĂN HÒA

Trong số những người làm thơ mà tôi biết thì Hạt Cát (Bùi Cửu Trường) là một người làm thơ “lạ” - làm thơ như “chơi”, làm thơ như là sự trút xả những nghẹn ứ trong lòng. Hạt Cát đến với thơ khá muộn, lúc mọi công việc “công” đã xong, chị mới tìm đến thơ và “chơi thơ” như một thú vui tao nhã trong những năm tháng tuổi già.
Vì thế khi đọc thơ Hạt Cát, nhà thơ Nguyễn Thế Kiên nhận định rằng: “Mấy mươi năm cống hiến cho nghề thuốc, nghiệp binh, ngoại lục tuần, chị mới chạm cái mênh mông của cõi ảo internet, những tưởng chỉ để khuây khỏa tuổi hoàng hôn. Nào ngờ, cứ sau mỗi bình minh lại thấy một vài bài thơ xuất hiện trên trang blog Hạt Cát của chị. Chỉ sau 24 tháng, chị đã viết hơn một ngàn bài thơ trên blog của mình. Đọc những bài thơ ấy, khiến tôi ngạc nhiên bởi sự lấp lánh của ngôn ngữ, sự độc đáo của ý tưởng… Đọc Hạt Cát tôi cứ băn khoăn một câu hỏi: Phải chăng, để có hai bốn tháng viết được hơn ngàn bài thơ đầy ám ảnh kia, là năng lượng từ một cõi siêu nhiên nào đó đã tích tụ trong chị suốt mấy chục năm qua? Hay cái duyên thơ từ trời xanh đã nhập vào đời chị sau tuổi lục tuần? Thơ của Diệu Sinh Bùi Cửu Trường – Sợi chỉ căng ngang giữa đời và đạo.”
Hạt Cát là người phụ nữ đã đi qua những tháng năm đau thương của dân tộc, chứng kiến những thăng trầm của đất nước. Cuộc đời chị được tôi luyện trong môi trường quân đội, có những tháng năm học tập ở nước ngoài và công tác trong ngành y đã tạo nên cốt cách của một con người khuôn phép, mẫu mực, đức độ, nhân ái và bao dung
Thơ chị chính là tiếng lòng của một người phụ nữ với những suy tư, đau đáu, lo lắng, khát khao. Đó là những suy ngẫm trước cuộc sống, con người, thời cuộc, những bất an trước bao điều nghịch lý, những giá trị người, giá trị đạo đức bị chao đảo. Những điều bất công, ngang trái vẫn cứ tồn tại và ngày càng phổ biến.
Lòng chị lại đau, khi Tổ quốc, dân tộc, nhân dân mình lại phải gánh chịu những tổn thương, nỗi bất công ngang trái của thời cuộc. 
Hạt Cát là người lặng lẽ sống, lặng lẽ viết. Chị làm thơ không phải để đăng báo, không để in và quảng bá, hay để đánh bóng tên tuổi mình. Làm thơ với chị như một nhu cầu tự thân. Chị cần mẫn, chăm chỉ như con ong tìm hương hoa về làm đầy tổ mật; chị viết, chị đọc, chị tự tập hợp in cẩn thận để tặng bàn bè. Phải chăng đó là niềm vui của chị ở tuổi xế chiều.
Chưa bàn đến nội dung và nghệ thuật tác phẩm nhưng khi lướt qua cả hàng nghìn bài thơ chị viết trong khoảng thời gian mấy năm từ lúc chị nghỉ hưu đến giờ mới thấy sức viết của chị sung sức đến nhường nào. Mới thấy chị “yêu thơ”, “chơi thơ” mê đắm biết nhường nào.
Những cặp phạm trù đối lập trong thơ Hạt Cát được sử dụng khá nhiều và tạo nên những hiệu ứng nghệ thuật rõ nét. Vốn kiến thức về Kinh Dịch của chị được thể hiện khá rõ trong thơ của mình. Có lẽ bên cạnh tố chất có sẵn, sự nỗ lực của bản thân, Hạt Cát còn thừa hưởng từ cái nôi truyền thống của gia đình và quê hương; cha chị là cụ đồ nho tài hoa, tài tử - Nhà thơ, Nhà báo Bùi Hạnh Cẩn; quê hương chị là vùng đất Nam Định - nơi sản sinh nhiều bậc danh sĩ, trí thức nổi tiếng. Tất cả những điều ấy đã tạo nên một Hạt Cát với  hồn thơ đa dạng, trữ tình, man mác làm nao lòng người đọc.
Đọc thơ chị, đúng như chị nói: “Tôi không cố ý làm thơ mà thơ nó tự tuôn ra trong đầu như có một sự lập trình sẵn, tôi chỉ việc chép chép ghi ghi và tôi gọi đó là Nhật ký thơ”. Nhật ký thơ của chị chính là nhật ký của những trang đời, mà ở đó có đủ các cung bậc, sắc thái: tốt - xấu, trắng - đen, vui - buồn, được - mất, hạnh phúc - khổ đau…
Thơ Hạt Cát là thơ của tâm trạng nên số chữ trong dòng thơ không theo một quy định nào. Chị viết đa dạng các thể thơ và ở thể loại nào Hạt Cát cũng đều có những bài thơ ấn tượng. Đó là thế mạnh để chị có thể bộc lộ, giãi bày đầy đủ những suy nghĩ, các cung bậc cảm xúc của lòng mình trước cuộc sống và tình yêu.
Thơ chị dày đặc những thanh âm buồn. Đó là những nỗi buồn đã thấm vào tâm can, ăn sâu vào huyết mạch của người đàn bà sống và yêu hết mình, hiến trọn cuộc đời cho đất nước. Ở cương vị nào, Hạt Cát cũng là người tử tế, hài hòa, sống biết mình biết người và lúc nào cũng hoàn thành tốt công việc.
Đó có thể là nỗi đau do chiến tranh, những người thân mãi mãi ra đi không bao giờ trở về, như vết dao cắt cứa tâm hồn người còn sống.
Chồng không về, con cũng không về…/Cả dâu rể đều không trở lại/ Ngôi nhà trống trải.?/ Mâm cơm bữa nào cũng trắng xóa nỗi đau?/  Đắng lòng nhìn bát đũa không/ Bát đũa những người ra trận…/ Không về! (Tái tê)
Đó cũng có thể là nỗi trăn trở của một công dân có tinh thần trách nhiệm, luôn quan tâm đến những vấn đề của đất nước, của dân tộc và thời đại.
Bài thơ Qua Hồng Hà chính là tiếng lòng đau đáu, sự nuối tiếc một thời đã qua, những kỉ niệm thuở nào giờ chỉ còn trong ký ức. Mọi thứ đã đổi thay, Hạt Cát nghẹn ngào: 


Em qua sông lòng trống rỗng khôn cùng!

Em qua sông hôm nay
Hồng Hà thu không hồng
Hồng Hà thu không nước
Không bãi ngô xanh mượt
Nhà lô nhô... Bãi rác lô nhô.

Em qua sông sang phía kia bờ
Không còn sóng xanh đồng lúa
...
Đường rộng thế và hoa đẹp thế!
Nắng thu trải hụt hàng cây

Em qua sông tìm hương lá ngất ngây
Chỉ thấy
Vườn biệt thự xô bồ đường biệt thự...
Mất tăm tích bờ cỏ gà ngày cũ
Cũng chả đâu sót lại ruộng đay
Không bóng trâu bò, không thấy cuốc cày
Không mái gianh chiều lam khói
Tiếng gà chìm xôi xa diệu vợi.
Thành phố lạnh im lìm bê tông...

Em qua sông lòng trống rỗng khôn cùng!

Hàng loạt những cái “không”, những thứ đã không còn hiện hữu nữa, làm cho “Em” và cả những người một thời đã từng gắn với ruộng đồng, dòng sông, bờ bãi, làn khói lam chiều… cảm thấy nhói đau.
Thời gian trong thơ Hạt Cát không chỉ là thời gian của tự nhiên mà còn là thời gian của tâm trạng. Có sự đan xen giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Thời gian hồi tưởng, tìm về quá khứ, tìm về những năm tháng bi hùng của tuổi trẻ, của một thời gian khó mà chị đã từng nếm trải. Ngoái nhìn lại, thời gian đã vèo qua, tuổi già ập đến:
Tháng năm trôi... Phai phôi năm tháng
Phút giây qua... Mòn cạn phút giây
Tuổi già rén đến từng ngày
Nhặt vàng lá cánh tay gầy run run.
Vốn là người đàn bà giàu lòng trắc ẩn, sống ở hiện tại nhưng nghĩ về những điều đã đi qua cũng làm chị nhói lòng. Cuộc cải cách ruộng đất năm 1956 đã gây ra bao hệ lụy và những hậu quả khó lường. Bao người bị oan, bị tù tội, ruộng đất bị tịch thu cũng từ chính sách ấy. 

Ao nước rộng ngày xưa câu cá
Vườn dọc ngang trĩu quả xanh cây
Thế mà… lại hoá trắng tay.
Nhà mình từ bấy đến nay… không nhà.

Cái sân họ xé ba, chia bảy
Mấy căn nhà họ lấy đem đi
Thắt lưng tần tảo sớm khuya
Tai bay vạ gió chuốc về bỗng dưng...

Đọc những câu thơ trên mà lòng đắng chát. Buồn. Xót xa. Thương cảm. Dù thời gian đã qua đi nhưng đó mãi là vết thương khó lành, nỗi đau đi cùng năm tháng.
Cùng với thời gian, không gian trong thơ Hạt Cát không chỉ là không gian của tự nhiên mà nó còn là không gian của tâm trạng: thể hiện những vui buồn, khắc khoải, lo âu.
Gánh buồn đem đổ xuống sông
Sông bị nghẹn dòng… sông khóc tỉ ti…
(Đổ buồn đi)
Sức hấp dẫn của thơ Hạt Cát đó chính là tính triết luận và chất thế sự được thể hiện trên từng con chữ, từng câu thơ, bài thơ. Đó là những nỗi đau xót, khi chị nhìn xung quanh mình, thời đại mình, thế hệ mình, xã hội mà chị đang sống với nhiều những điều nghịch lý. Chị sâu sắc nhận ra:
Xin đừng dậy tôi yêu Tổ quốc thế nào
Khi máu xương người thân tôi đã lẫn vào đất đá
Khi da thịt bè bạn tôi ngấm vào hoa cỏ
Khi năm tháng trường kỳ, tuổi trẻ chúng tôi đội đạn, cõng bom.

Xin đừng đứng trên bờ khuấy cho nước đục ngòm
Chỉ béo lũ cò khôn ngoan rình rập
Hãy là chính mình. Hãy giữ lấy tâm mình TRONG VẮT 
Đừng dậy đời khi mình vẫn chửa khôn!
(Xin đừng dậy tôi yêu Tổ quốc thế nào

Trong bài Xin cảm ơn, Hạt Cát như thực hiện một cuộc tự vấn đầy công bằng với tinh thần và ý thức trách nhiệm của một công dân một thời tin tưởng tuyệt đối vào Đảng ngay cả khi ác liệt nhất “lúc bom gào đạn rú”.
Nhét thương đau dưới đáy tim mình
lục ruột gan tôi tìm niềm tin xưa cũ
Cái niềm tin chói ngời lúc bom gào đạn rú
Niềm tin sắt đá màu tươi.

"Đảng là mặt trời
Cho tôi sáng lòng, sáng mắt"
( A - ra - gông* đã tin, đã viết ) .
Chúng tôi đã tin, đã hát....

Ấy vậy mà giờ đây, Hạt Cát hỏi trong câu hỏi đầy tuyệt vọng:

Và/ bây giờ/ Nếu ở Việt Nam/ nếu ông chưa chết/ Ông có đau nỗi đau tôi?! 
​Bởi vì, thế cuộc xoay vần, mọi thứ đổi thay chóng vánh, không chỉ thiên nhiên, cây cỏ, biển rừng mà ngay cả tình người, niềm tin cũng “lặn ngụp, trụt trồi”.            
NơiSói tru tiếng người/ Tan núi hoang rừng, thú chim táo tác/ Ruộng đồng băm nátCá tôm ngộp nước/ Bụng phơi, 
Lều bều niềm tin lặn ngụptrụt trồi. 
... 
Rồimột ngàyĐất nước tôi/ Đêm đen qua/ lại đỏ mặt trời/ lại hừng đông lửa. 
Xin cám ơn Đảng của tôi
- Người dạy tôi/ mở mắt/ mở lòng. 
Tinniềm tin Nhân - Quả.

Mọi thứ trong cuộc sống đều có giới hạn, chỉ riêng sự mênh mông trong trái tim của mỗi con người là vô tận. Hạt Cát đã sống, đã đi qua những năm tháng của tuổi trẻ, chị đã cống hiến cả tuổi thanh xuân của mình cho đất nước.
Bất chợt buồn, bất chợt vui
Mới hay mình đã già rồi còn đâu
Loay hoay chuốt lại mái đầu
Tóc xanh đổi sắc thay màu ngẩn ngơ
(Bất chợt

Sống ở môi trường thành thị nhưng trong tâm khảm chị lúc nào cũng hướng về vùng đất đã sản sinh, nuôi dưỡng mình từ thuở lọt lòng. Vụ Bản, Nam Định - mảnh đất nặng nợ ân tình, nơi gắn với bao ký ức, niềm thương đi vào thơ chị như sự trải lòng….Cảnh đẹp, nên thơ, hiền hòa. Con người sống chan hòa, tình nghĩa. Hạt Cát có nhiều bài thơ viết về vùng quê này với một tình cảm thiêng liêng của một đứa con xa quê luôn nhớ về nguồn cội.
Hạt Cát muốn sống hòa hợp, muốn gần gũi, chia sẻ vui buồn với tất cả mọi người. Tuy vậy, nhiều khi chị cảm thấy “chán” và muốn:
Cợt vàng giỡn ngọc mà chơi
Chán trò.
Rũ áo lên giời hái sao.
(Chán trò)
Có lúc, chị trở về với chính chị, “tôi về với tôi”, “tôi thấu hiểu tôi”:
Vô hình gửi cho nhau
Rầu rầu nắng sớm, nhàu nhàu hoàng hôn
Hữu hình nghĩa ráp, tình trơn
Trăm thề ngàn hẹn trẫm luồng nước xuôi.

Vô hình tôi gặp tôi
Một bơ vơ gió, một bời bời mây
Hữu hình kẻ tỉnh, người say
Bao lăn lóc, bấy vơi đầy...
Tình tang
(Vô hình – Hữu hình)

Chưa hết, khi chị nhìn thấy thế cuộc ngã nghiêng, mọi giá trị chao đảo, thì con người thơ ấy lại đau đớn:
1. Đặt bày sinh tử khắp gầm trời
Nhân thế ngược xuôi bạc tựa vôi
Tạo hoá lộn thiên cho trẻ vẽ
Quỷ thần đảo địa để già bôi
Trăm năm chìm nổi mây tan tác
Một thoáng phiêu du gió tả tơi
Nghịch ngược kiếp đời vô nghĩa ấy
Chả qua cũng chi kiểu đùa chơi!

2. Đã rằng đời giống một trò chơi
Kẻ đến người đi mặc xác trời
Ngẩng mặt trông lên: mưa giọt xám
Cúi đầu ngó xuống: nước lờ vôi
Luân hồi quanh quẩn xin buông trọn
Duyên nợ cong queo cố thả lơi
Hãy trả cho sòng vay kiếp trước
Khi về cõi tử khỏi ai đòi!
(Thưa với hư không)
Con người trong thơ Hạt Cát là con người hòa nhập, nhưng dường như lúc nào cũng cảm thấy cô đơn và đầy ắp những nỗi lo âu, tự vấn. Đôi lúc, Hạt Cát cảm thấy bất lực:
Hỏi mình... Mình chả biết đâu
Ra sông mà hỏi nhịp cầu chông chênh
Bụi mưa sớm rớt lạnh tanh
Hững hờ chiều gió quẩn quanh gai rào

Tại làm sao? bởi làm sao?
Dại khờ cánh nhạn sa vào lưới giăng
Thượng huyền ngơ ngác ngóng rằm
Hạ huyền nín dấu đăm đăm bóng vàng.

Trách khuya mờ mịt đường sang
Trách đêm con sóng vặn ngang mái chèo
Thuyền  mui trơn nhẫy màng rêu
Dám đâu sầm sập cố liều một khi.

Hỏi mình, Mình có biết gì...
Chát chua dây dớt, ngãi nghì bâng quơ...
Là trung trinh? Là dối lừa?
Lang bang nào thiếu, nào thừa... Ai hay?! 

Này trời tỉnh, này đất say
Phẩy tay... Năm tháng đêm ngày. 
                                          Thế thôi! 
Câu thề sặc trắng bụi vôi
Gập ghềnh tròn méo Thiên thai ...
                                           Liệu rằng...! ...
                                           (Hỏi)

Bên cạnh những vần thơ viết về quê hương, người thân, thế sự… Hạt Cát còn có nhiều bài thơ viết về tình yêu, với nhiều những cung bậc tình cảm và sắc thái khác nhau.
Xin đừng nói yêu
lời yêu sao bền khi cõi đời giả tạm? 
Xin đừng thề hẹn
thề hẹn sao khi đá núi vẹt mòn?!

Vết đỏ son
Vệt môi tình vẫn đậm.
Neo hồn người dấu trong sâu thẳm
Tim ta.
(Để lại)

Buồn vì mây cuốn nắng trưa
Ngắm vu vơ / ngọn gió lùa ngọn cây
Ngoài thềm / hoa sữa rơi đầy
Thương ai / Mà mãi đến rày vẫn thương
 (Vu vơ)

Yêu cho lật đất, sụt giời
Cho tương tư rối bời bời áo khăn.
(Nõn nà ơi)

Hình ảnh thiên nhiên trong thơ chị đầy màu sắc, sinh động, gợi cảm, có hồn. Hạt Cát thường mượn hình ảnh thiên nhiên để bộc lộ thế giới nội tâm của mình.
Với ngôn ngữ tự nhiên, sự phong phú các thể loại thơ Hạt Cát đã đem đến cho người đọc những sắc màu, giai điệu, cung bậc đa dạng. Ở đó, người đọc nhận thấy những chân giá trị mà chị muốn gửi gắm vào đó. Bằng sự hiểu biết, cộng với vốn sống phong phú, sự trải nghiệm Hạt Cát đã nêu lên những suy nghĩ về cuộc sống, tình yêuđầy nhân bản.
Cái đáng quý và đáng trân trọng ở Hạt Cát là chị có một phẩm chất trí tuệ thông minh, một con người giàu niềm tin, đầy bao dung và nhân ái. Hạt Cát đã đem đến cho người đọc những vần thơ ám ảnh, quặn thắt niềm thương, nỗi nhớ- trong đó nỗi đau, nỗi cô đơn, những khát vọng cháy bỏng về tình yêu- hạnh phúc và những triết lý về cuộc đời./.

Nguyễn Văn Hòa
Theo Fb Hatcat Dieusinh


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét