Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

Thơ Tần Hoài dạ Vũ/ Bài bình Võ Mai Trang / Quy Ẩn Về Đâu?


TẦN HOÀI DẠ VŨ
QUY ẨN, VỀ ĐÂU?
Kính tặng anh Tường Linh
(nhân đọc “Khúc ca quy ẩn”)

Chiều xuống bên trời, mưa nữa đây
buồn như triều rộng sóng dâng đầy
phương xa đã thấm mùi lưu lạc
đã ngán chuyện mình mãi đổi thay
chẳng tiếc hư danh, đành phận mỏng
xoa tay mộng ngắn chẳng qua ngày
chiều nao soi bóng trong vinh hiển
để tối nay ngồi nhẫm đắng cay
thôi thế màu đời trăm sắc ảo
ngay về mây trắng trói hai tay

Nhớ xưa ta đến đời như mới
nuôi mộng sông hồ mắt đắm say
phơi phới tim vui lòng nhịp bước
buồn đau ngỡ đạp dưới chân giày
ta đi không nhớ người thương nhớ
không tiếc tình vương ở cuối mày
không hẹn đâu màng câu lỗi hẹn
cười khinh danh lợi thế gian này
đâu hay đời cứ cho gian dối
thế sự trêu người mưa bóng mây
lối cũ quay về sương khói lạnh
tuổi xuân che mặt khóc hao gầy
thì ra ảo tưởng là ta đấy
và cũng là ta kẻ trót vay
giấc mộng sông hồ tan bọt nước
cười mình trí cạn, chẳng cơ may
“gẫm bao chí lớn trong thiên hạ
chẳng được còn xanh với cỏ cây
thì ta một chấm nhân sinh nhỏ
mong mỏi gì hơn ở kiếp này?” (*)
biết thế mà không đành dạ thế
bụi đường trăm lớp giũ chưa bay

Tìm em cửa nhỏ mong tương ngộ
duyên muộn còn chăng một chút này
mỏi gối gan hùm thay lốt thỏ
gửi thân yếm thắm, óc chưa lầy
đêm đêm đối bóng thầm tâm sự
chẳng bắt trăng vàng trên gối say
chẳng hẹn người về chung lối mộng
chỉ mong dâu bể lấp mau đầy
nào hay nhân ngãi không đành phận
cuối cuộc tang thương để dấu giày
trong máu pha cung đàn tiễn hận
quạt mồ xanh nắm cỏ trên tay

Ai dẫn chân ta về xóm trúc?
am không xơ xác tấm thân gầy
nghe câu thuyết pháp lòng như đất
chẳng ngộ cho mình được mảy may
quay bước, làng xưa tìm lối cũ
mẹ cha già yếu bỏ bao ngày
về nương bóng hạc quên đời bạc
bất hiếu thôi đành con chắp tay
quê cũ dòng xanh sông chảy lại?
tuổi thơ khói bếp có sum vầy?
ngàn năm mảnh đất đan trong kén
lại hóa thành thơ cho bướm bay
bạn cũ đã xa ngoài vạn lý
tạ lòng ai hát bóng trăng lay

Ai về cố quận cam quy ẩn
ta xót chi đời những lúc say
manh áo ân tình đành bạc thếch
sầu lòng mấy buổi chẳng ai hay
đời thôi xin cứ bay như khói
chẳng có ai về lau mắt cay
dẫu trốn được ra ngoài hữu hạn
hư vô cũng lạnh cuối chân mày!

2-12-2001
Tần Hoài Dạ Vũ 


TẢN MẠN "QUY ẨN, VỀ ĐÂU?"
VÕ MAI TRANG
Bài thơ rất hay, mà thi sĩ - thầy giáo cũ - Tần Hoài Dạ Vũ cảm khái sáng tác lúc đọc" Khúc ca quý ẩn" của thi sĩ Tường Linh , đã cho tôi nhiều cảm xúc..., khi tôi tình cờ tìm thấy bài thơ này trên internet. 
Tựa của bài thơ "Quy ẩn, về đâu?" gợi nhớ cho tôi “Quy Khứ Lai Từ” của Đào Tiềm và một kỷ niệm thời thơ ấu, lúc mới bốn tuổi, cảm giác rất ấm áp được ngồi trong lòng Ba vào những ngày mưa rơi nhiều ở Huế, nghe người đọc những giòng thơ này từ bức hoành phi sơn đen khắc chữ vàng treo trên tường và dạy tôi thuộc lòng hết cả bài thơ này. Có phải chăng Ba tôi đã gởi gắm tâm sự theo người xưa qua đứa con gái nhỏ lúc rủ áo từ quan về dạy ở Viện Hán Học Huế năm 1960? Giờ đây, nửa thế kỷ sau, mỗi lần đọc lại bài thơ 'Quy khứ lai từ" là tôi lại nhớ Ba với nỗi u hoài không nguôi . Và sau này, dù đã được đọc những thi phẩm nổi tiếng của Lý Bạch, Thôi Hiệu .. nhưng Đào Uyên Minh vẫn có chỗ đứng thật đặc biệt trong lòng tôi vì kỷ niệm tuổi thơ đó.
Quy khứ lai hề ,
Điền viên tương vu hồ bất quy?
Ký tự dĩ tâm vi hình dịch
Hề trù trướng nhi độc bi?
(Về đi thôi, ruộng vườn hoang phế sao chưa về ? 
Lòng tự nhủ bản thân phục dịch, cớ sao còn buồn bã sầu bi?)
Lúc học lớp 9 ở Trường Nữ Trung học Thành Nội, Huế, tôi rất yêu thích giờ Giảng văn với thầy Nguyễn Đức Dật, và cũng đã nghe đến Đào Uyên Minh một lần nữa. Thấy Dật rất hiền và giỏi chữ Hán, thường dịch điển tích từ những bài thơ cho chúng tôi nghe. Tôi nhớ thầy giảng về Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến trong bài Thu Vịnh :
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút 
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào
Thầy giải thích, Đào Tiềm vì không muốn luồn cúi những kẻ tầm thường đã trả áo mão từ quan về sống ẩn dật vui thú điền viên và viết bài "Quy Khứ Lai Từ", cũng như Nguyễn Khuyến vì không chịu làm quan dưới thời Bảo hộ, cũng trở về vui với thiên nhiên.
Có phải Đào Uyên Minh dù sao cũng may mắn còn có quê nhà để về quy ẩn...Ông có bằng lòng hay không? Đôi khi tôi tự hỏi, vì ông vẫn còn mơ về một thế giới cách biệt với xã hội lúc bấy giờ đến nỗi viết "Đào Hoa Nguyên Ký" , kể chuyện một ngư phủ đi theo giòng suối đến khu rừng đầy hoa đào, đi thêm nữa thì gặp một nơi chốn lý tưởng khác.
Quy ẩn hay không? Nguyễn Khuyến trở về quê nhà không chịu hợp tác với chính quyền Bảo hộ, nhưng chúng ta đã có Phan Châu Trinh, Tăng Bạt Hổ dấn thân mưu đồ cứu quốc , Phan Bội Châu bôn ba hải ngoại và viết tác phẩm thi ca "Hải Ngoại Huyết Thư", kêu gọi lòng yêu nước. Còn nữa, những nhà cách mạng chống Pháp đã bị tù đày , và những người dù ra làm việc với chính quyền Pháp nhưng vẫn âm thầm ủng hộ những nhà chí sĩ đó. Ở đây, tôi muốn nhắc đến một vị quan liêm khiết đã giúp đỡ ông nội tôi, chí sĩ Võ Bá Hạp, lúc lâm trọng bệnh trong chốn lao tù nơi rừng thiêng nước độc vì hoạt động cách mạng chống Pháp , vị quan đó không ai khác hơn là ông nội của cô Hiệu trưởng Trường Nữ Thành Nội của chúng tôi (1). 
 Tôi yêu câu thơ ngất ngưởng hào khí này mà ông nội đề tặng bạn , cụ Đỗ Đăng Tuyển, một nhà cách mạng xứ Quảng, khi từ biệt bên giòng Thạch Hãn để đi đến chốn ngục tù Lao Bảo:
Văn chi Lao Bảo ly my hương, 
Ngã vi Lao Bảo du hào tẩu. 
(Người ta nói Lao Bảo là chốn ma quỷ, rừng thiêng nước độc. Tôi cho rằng chốn ấy là nơi anh hùng hào kiệt tụ họp) 
Đãn khuynh Hãn thủy tác biệt tửu,
Cộng tả bình sinh khối lỗi chi hung hoài!. 
 (Tôi xin nghiêng dòng Thạch Hãn lấy nước làm rượu tiễn biệt, Đồng thời, tôi gữi theo khối u hoài bình sinh chất chứa trong đáy lòng!)
Quy ẩn hay không ? Có những nhà văn nhà thơ đã gác bút, nhưng cũng có những thi sĩ vẫn sáng tác những bài thơ ca tụng tình yêu muôn thuở, nửa thế kỷ sau đọc lại vẫn cảm thấy xao xuyến như ở tuổi đôi mươi. Và vẫn có những văn sĩ vẫn viết những tác phẩm giá trị để lại cho thế hệ mai sau...
Tôi cảm nhận được, ngay cả những điều nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ không nói nên lời, tâm sự của một người yêu nước, đã có một thời tuổi trẻ sống trong ước mơ, hoài bão lớn về một ngày mai tươi sáng của quê hương, đất nước. Và nỗi buồn thấm thía tận đáy tâm hồn, khi phải quy ân, mà cũng chẳng biết phải "quy ẩn, về đâu?". Tâm sự ấy, nỗi lòng ấy, được thể hiện một phần trong 64 câu thơ u uất, nghẹn ngào này. Và có lẽ chính điều ấy đã khiến mọi người đọc thơ "Quy ẩn , về đâu ?" đều có thể đồng cảm với tác giả, với cả một thế hệ thanh niên đã sống chân thành với quê hương, với đồng bào.
Tôi yêu thích bốn câu thơ cuối trong bài "Quy ẩn, về đâu? " của thầy giáo cũ, đọc lên nghe cảm động như khi thưởng thức một bản nhạc nào đó nhiều kỷ niệm , khóc nhưng chẳng có ai lau vội những giòng nước mắt , và có lẽ tôi cảm nhận được trong đó nỗi ước mơ tung cánh bạt ngàn , ra khỏi những ràng buộc tư tưởng, thể xác để tự do bay vào nơi chốn hư vô...dù cõi hư vô cũng chỉ là nước mắt.
Đời thôi xin cứ bay như khói
Chẳng có ai về lau mắt cay
Dẫu trốn được ra ngoài hữu hạn
Hư vô cũng lạnh cuối chân mày!
Thi sĩ thương cho thân phận mình, không biết trở về nơi đâu, đã cảm thấy cô đơn ngay trên chính quê nhà của mình. Nỗi bơ vơ trong những dòng thơ buồn này làm tôi chợt nhớ đến một người bạn lớn , hồi xưa học Luật khoa Huế, anh sang ngoại quốc làm việc, chán đời sống tất bật đã nghỉ hưu sớm trở về quê cũ quy ẩn, như anh nói...để tìm lại giây phút êm đềm ngày xưa...Vậy mà, anh viết cho tôi bài thơ gởi từ Huế , trong đó có câu: "Đứng trên cầu Trường Tiền mà sao vẫn quay quắt nhớ Sông Hương". Giòng Hương giang ngay ở đó, anh đang nhìn thấy nó, mà sao vẫn trăn trở nhớ nhung với nỗi cô đơn tột cùng ? Anh trở về Mỹ, một thời gian ngắn sau thì bị bệnh mất. Nghe tin anh qua đời tôi đã rất đỗi bàng hoàng...Rồi tự an ủi, có lẽ bây giờ anh đã quy ẩn ở một nơi bình yên hơn cõi ta bà này?
Còn thi sĩ - thầy giáo cũ của tôi - Tần Hoài Dạ Vũ- thì chẳng biết quy ẩn nơi nào trong cõi thế hỗn mang này, dẫu khi đã quay về chốn làng cũ, làng Giao Thủy (có lẽ vì vậy mà thầy còn một bút danh khác , khi viết báo: Nguyễn Giao Thủy), cái làng quê thân thương mà nhà thơ ca ngợi: "Ngàn năm mảnh đất đan trong kén/ Lại hóa thành thơ cho bướm bay". "Quy Ẩn, Về Đâu?", như thế, xem ra là tâm sự không phải chỉ của cá nhân thầy giáo cũ của tôi!

VÕ MAI TRANG
(1) GHI CHÚ CỦA TÁC GIẢ "QUY ẨN, VỀ ĐÂU?" :
Vị quan liêm khiết, ông nội của cô Tôn NỮ Tiểu Bích, cựu Hiệu trưởng Trường Nữ Trung học Thành Nội, Huế (1964-1975), mà Võ Mai Trang nhắc đến trong bài, chính tác giả bài viết cũng không nhớ tên. Vì thế, chúng tôi đã viết thư hỏi thăm, và được chính cô Tôn Nữ Tiểu Bích, vị Hiệu trường tài sắc vẹn toàn của NTN xưa đã dành thì giờ "kể chuyện" người xưa cho tôi nghe; nhờ vậy, qua cả học trò cũ và vị Hiệu trưởng cũ,tôi biết thêm một giai thoại lich sử thật cảm động. 
Ông Công Tôn Thế Ngô (thường gọi là ông Hậu Bổ), là cháu ba đời của vua Gia Long.
Khi cụ Cử Võ Bá Hạp bị Pháp bắt đi tù, do bị bệnh nặng, được vợ chồng ông Hậu Bổ cho tá túc trong tư dinh để chữa bệnh. Theo lời của cô Tiểu Bích, "Sau khi được ông bà nội tôi "cưu mang" và thang thuốc, cụ Cử Võ phải "mang gông" đi tù tiếp. Khi mới đến nhà ông bà nội tôi, cụ Võ Bá Hạp có đưa cho bà nội tôi một "ruột tượng" đựng tiền. (Ruột tượng là một loại túi may bằng vải, người xưa dùng dựng tiền- thay cho bót-tờ-phơi). Khi cụ Cử Võ lành bệnh và sắp sửa mang gông đi tù, bà nội tôi đưa trả lại ruột tượng. Cụ Cử Võ Bá Hạp nói tiền này xin gửi lại bà nội tôi , là chi phí thời gian cụ dưỡng bệnh. Ông bà nội tôi nghèo, nhưng nhất định không chịu nhận số tiền ấy. 
Như thế, không những ông nội tôi "tốt" mà bà nội tôi phải nói là tuyệt vời. Con đông, nhà nghèo, nhưng "không thấy tiền sáng mắt" (Email ngày 30.4.2014). 
Xin được nói rõ, ông nội của Võ Mai Trang, Chí sĩ, nhà yêu nước Võ Bá Hạp (người miền Bắc quen gọi là Võ Bá Hợp), thường được gọi là cụ Cử Võ, thi đỗ Cử nhân nhưng không chịu tra làm quan; hiệu là Trúc Khê, tự Nguyên Bích, sinh tại Hải Dương năm Bính Tý 1876; mất năm 1948, tại Huế; hiện mộ phần nằm trong khuôn viên nhà thờ cụ Phan Bội Châu, tại Bến Ngự, Huế. 
Cụ Võ Bá Hạp vào sống tại Huế từ lúc c̣òn nhỏ, nhà ở khu Bao Vinh. Khi cụ Tăng Bạt Hổ ra tù, không có nơi nương tựa, lại đang đau ốm, cụ Võ Bá Hạp đã đưa cụ Tăng Bạt Hổ về nhà mình, và tự tay chăm sóc, trông nom thuốc thang cho cụ Tăng Bạt Hổ. Và khi cụ Tăng Bạt Hổ qua đời, cũng một tay cụ Võ Bá Hạp lo chuyện hậu sự. Trời lụt, không sao đưa tang được, cụ Võ Bá Hạp đã đích thân tới nhà một viên Lãnh binh, xin mượn chiếc thuyền. Dù sợ chính quyền Pháp, nhưng cảm động trước tấm chân tình của cụ Cử Võ, viên Lãnh binh kia đã đồng ý cho mượn thuyền để cụ Võ Bá Hạp đưa cụ Tăng Bạt Hổ đến nơi an táng. Tấm lòng của người xưa sao mà cao quý ! Lớp hậu sinh ngày nay liệu có mấy ai có tấm lòng trượng nghĩa như vậy? 
Riêng kẻ hậu bối này, cảm tấm lòng cao cả và cái tình bao la của người chí sĩ yêu nước, nên vào một ngày mùa đông cuối năm 2013, đã tìm về thắp một nén tâm hương trước mộ cụ Phan và cụ Cử Võ, cho trọn lời hứa với một người học trò cũ xa quê nhà , xa phần mộ ông nội đã 40 năm. (THDV).

GHI CHÚ ẢNH:
Chí sĩ VÕ BÁ HẠP (1876-1948), nhà yêu nước chống Pháp, bạn đồng chí với chí sĩ Phan Bội Châu và nhiều nhà cách mạng khác.(Chân dung do bà MỘNG HOA vẽ)

theo Fb Tần Hoài Dạ Vũ
VANDANBNN st/gt


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét