Chủ Nhật, 6 tháng 5, 2018

Sách Phong Thủy Ứng Dụng/ CHƯƠNG 4/ DỤNG CỤ PHONG THỦY


Bìa 1 & Bìa 4 sách Dịch học tập 1
.

PHONG THỦY ỨNG DỤNG
CHƯƠNG 4
DỤNG CỤ PHONG THỦY

1.BÁT QUÁI
Từ Bát quái tiên thiên, lập ra bát quái hậu thiên. Bát quái hậu thiên là công cụ chính của kinh dịch phong thủy. Tất cả các dụng cụ khác như la bàn, thước Lỗ ban, Bát quái đồ đều được người đời chế tạo từ Bát quái.
Bát quái hậu thiên nhiều tầng, nhưng cần nhớ ba tầng gốc: Tầng tên gọi (xác định ngũ hành), tầng phương hướng (xác định hướng  nhà) và tầng số học (xác định mệnh trạch).







HẬU THIÊN
 BÁT QUÁI
BA TẦNG





TỐN (MỘC)
ĐÔNG NAM
SỐ 4


LY (HỎA)
NAM
SỐ 9


KHÔN(THỔ)
TÂY NAM
SỐ 2

CHẤN (MỘC)
ĐÔNG
SỐ 3


TR.TÂM
THỔ
SỐ 5 & 0

ĐOÀI (KIM)
TÂY
SỐ 7


CẤN (THỔ)
ĐÔNG BẮC
SỐ 8


KHẢM(THỦY)
BẮC
SỐ 1

CÀN (KIM)
TÂY BẮC
SỐ 6

2.LA BÀN.
Là dụng cụ số hóa phương hướng. Vòng tròn 360* định danh bốn phương tám hướng. Điểm 0 hay 360* hướng chính Bắc, 90* hướng chính Đông, 180* hướng chính Nam và 270* hướng chính Tây.
Kim La bàn tọa hướng trên trục Bắc/Nam.

3.THƯỚC LỖ BAN
Thước dài 43,18cm, phân thành tám phần (bát quái) mỗi phần 5,4 cm. 5,4cm là một cạnh hay một quái của hình bát giác. Nên 5,4 chính là đơn vị đo lường quen gọi là Lỗ ban, có khả năng dụng biến ( cộng thêm hay trừ đi 5,4 mang ý nghĩa tăng hoặc giảm 1 quái khiến tìm được bốn cung lành hoặc bốn cung dữ theo ý muốn.
/ Miền Bắc VN quen dùng thước Lỗ Ban dương trạch 42,9 và âm phần 39cm/.

4.BÁT QUÁI ĐỒ
Căn bản vẫn là bát quái hậu thiên, được đời cập nhật thành Bát quái đồ để luận giải cát hung phong thủy. Bát quái hậu thiên tàng ẩn những thuyết lý căn bản., được coi là chân lý. Bát quái đồ lập thành theo Bát quái Hậu thiên. Vì vậy, khi dụng Bát quái đồ phải trên căn bản lý, tượng, số của bát quái hậu thiên mới tranh khỏi những sai lầm, hoặc những điều mơ hồ, bí hiểm mang tính dị đoan không căn cứ.


Tầng quẻ : TỐN
Tầng Hành: PHONG/MỘC
Tầng huyết thống: CON GÁI CẢ
Tầng thân thể: HÔNG
Tầng mầu sắc: XANH ĐẬM
Tầng số: SỐ 4
Tầng đời: PHÚ QUÝ


Tầng quẻ : LY
Tầng hành: LỬA/HỎA
Tầng huyết thống: CON GÁI THỨ
Tầng thân thể: MẮT/ TIM
Tầng mầu sắc: ĐỎ TÍA
Tầng số : SỐ 9
Tầng đời: DANH VỌNG

Tầng quẻ: KHÔN
Tầng hành: ĐẤT/ THỔ
Tầng huyết thống: MẸ
Tầng thân thể: TẠNG PHỦ
Tầng mầu sắc: VÀNG
Tầng số : SỐ 2
Tầng đời: HÔN NHÂN

Tầng quẻ : CHẤN
Tầng Hành: SẤM/MỘC
Tầng huyết thống: CON TRAI CẢ
Tầng thân thể: GAN, CHÂN
Tầng mầu sắc: XANH LÁ CÂY
Tầng số: SỐ 3
Tầng đời: GIA ĐÌNH


TRUNG CUNG
THỔ
SỐ 5 & 0
SINH TỒN,
SINH LÝ

Tầng quẻ: ĐOÀI
Tầng hành: TRẠCH/KIM
Tầng huyết thống: CON GÁI ÚT
Tầng thân thể: MIỆNG/ PHỔI
Tầng mầu sắc: TRẮNG
Tầng số: SỐ 7
Tầng đời: TỰ TỨC/

Tầng quẻ: CẤN
Tầng Hành : NÚI/SƠN/THỔ
Tầng huyết thống: CON TRAI ÚT
Tầng thân thể: TAY
Tầng mầu sắc: VÀNG
Tầng số: SỐ 8
Tầng đời: TRÍ THỨC

Tầng quẻ: KHẢM
Tầng hành: NƯỚC/THỦY
Tầng huyết thống: CON TRAI THỨ
Tầng thân thể: THẬN
Tầng mầu sắc: XANH ĐEN
Tầng số: SỐ 1
Tầng đời: SỰ NGHIỆP

Tầng quẻ: CÀN
Tầng hành: TRỜI/ KIM
Tầng huyết thống: CHA
Tầng thân thể: ĐẦU
Tầng mầu sắc: TRẮNG XÁM
Tầng số : SỐ 6
Tầng đời: QUÍ NHÂN

Hai tầng quan trọng nhất là tầng số và tầng tầng đời. Tầng số là căn cứ tìm trạch mệnh theo năm sinh và tầng đời là tầng đề xuất giải pháp kích hoạt cát/hung.

TẠI SAO KHÔNG THIẾT LẬP BÁT QUÁI ĐỒ THEO TIÊN THIÊN?
Tiên thiên ví như 24 chữ cái, cố định, tĩnh. Hậu thiên là 24 chữ cái động, đã thành văn tự, ngôn ngữ. Phong thủy là phép xem âm dương, ngũ hành của vũ trụ tương phối với căn nhà cư ngụ, nên phải lập Bát quái đồ theo Hậu Thiên.

CÓ BAO NHIÊU TRƯỜNG PHÁI BÁT QUÁI ĐỒ?
Nhiều chăng? Tuy nhiên, có hai trường phái thịnh hành nổi bật và đáng xem xét trên cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm. Một trường phái cho rằng Bát quái đồ thiết lập theo trục Bắc Nam, dụng cho mọi trường hợp thuận/nghịch trạch mệnh. Trường phái khác cho rằng Bát quái đồ thiết lập Ma trận Tam Môn Vượng Khí. Người soạn chép sách này theo trường phái Bát quái đồ Tam Môn Vượng Khí.

BÁT QUÁI ĐỒ TAM MÔN VƯỢNG KHÍ LÀ THẾ NÀO?
Dòng khí ( dương quang, gió nước) của vũ trụ chảy vào dương trạch nhất định phải đi qua môn trạch (cửa cái). Bất kỳ dương trạch nào cũng chỉ có ba vị trí mở được cửa cái. Mở chính giữa mặt tiền trạch, có thể mở một phần hoặc mở hết theo chiều rộng. Mở cửa phần mặt tiền phải. Hoặc mở cửa phần mặt tiền trái. Dù cửa cái định vị ở ba vị trí nào (nói trên) đều là cửa vượng khí, ba loại mở cửa cái này gọi là thuật phong thủy Tam Môn Vượng Khí.
Theo bát Quái đồ, mở cửa cái chính giữa mặt tiền dương trạch là vị trí số 1, tên Sự nghiệp, mở cửa phía trái dương trạch là vị trí số 8, tên Trí Thức và mở cửa phía bên phải là vị trí số 6, tên Quý Nhân (phúc đức/may mắn).
Trình tự dòng chảy của khí theo Bát Quái Đồ khởi từ số 1, cung Khảm, lên số 2, cung khôn, tới số 3 cung Chấn, số 4 cung Tốn, số 5 vào Trung tâm, lên số 6 cửa Càn, tên Quý nhân, lên số 7, cửa Đoài/ Tử Tức-Tương lai, số 8 cửa Cấn, Hoàn thành, lên số 9 cửa Ly / Danh vọng, vào số 10 Trung tâm là hết một vòng khí, trở lại số 1, cứ thể luân chuyển mãi mãi.
Từ trình tự này, sau khi định vị cửa cái sẽ biết được dòng chảy của khí vào căn nhà cư ngụ chuyển dịch như thế nào. Nếu cửa cái mở cung số 1, dòng khí vận động như dẫn ở trên. Nếu cửa cái định vi cung số 6, thì tiếp sau là số 7, rồi 8. Và nếu định vị cửa cái là số 8, thì tiếp sau là 9, rồi 10, trở về 1, lên 2..
Cửa cái mặt tiền dương trạch xác định dòng khí của từng không gian mà trạch chủ quan tâm.

CÔNG DỤNG CỦA BÁT QUÁI ĐỒ ?
Bát quái đồ là ma trận tam phương, công dụng của bát quái đồ là thuận theo ma trận được cát, nghịch ma trận tất hung.
Ma trận có phức tạp và bí ẩn? Bảo là phức tạp bí ần thì là phức tạp bí ẩn, bảo không phức tạp, bí ẩn thì là không. Đấy cũng chính là ngôn ngữ của ma trận khi biết vận dụng theo cách của ma trận.. Ngay cả những người không bận tâm đến phong thủy, nhưng nếu đồ đạc trong nhà xếp đặt thuận theo ma trận, ắt sẽ thấy ngay hiệu quả về tiện ích, về thẩm mỹ của dương trạch, của phòng ốc. Nên mới bảo, nhà ở theo phong thủy truyền thống là khi bước đi, đầu không xung sát, chân không vướng cản, tay không không va đụng, mọi thứ ngăn nắp gọn gang, tiên dụng. Phong thủy thực ra đơn giản là thế, ma trận cũng đơn giản là thế.
Phức tạp rối mắt ở chỗ: các trục ngang , chéo, dọc của ma trận đều có tổng bằng 15. Con số 15 này là mức cân bằng khí âm dương, ngũ hành, mà người cư ngụ khi dụng đã làm rối loạn khí, quá dư ở trục này và thiếu thốn ở trục khác. Giải pháp của ma trận giúp cân bằng trở lại bằng cách kích hoạt để các trục khí như bình thong nhau mà được cân bằng.

/ Mời đọc tiếp chưởng Năm PTUD/
Nguyễn Nguyên Bảy

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét