Trích sách TÌNH THƠ BẠN THƠ 1/ Nguyễn Văn Hòa
11. DƯ THỊ HOÀN
VÀ NHỮNG “LỐI NHỎ” TRONG THƠ
VÀ NHỮNG “LỐI NHỎ” TRONG THƠ
Nhà thơ Dư
Thị Hoàn tên thật là Vương Oanh Nhi, sinh năm 1947 tại Hải Phòng. Chị từng là
công nhân máy tiện tại xí nghiệp Z21 trong thời chiến tranh chống Mĩ. Sau năm
1979 chị chuyển sang làm kinh doanh, từng là trưởng đại diện một doanh nghiệp Hồng
Kông tại Hải Phòng. Nhà
thơ còn có bút danh khác là Nữ Lang Trung.
Chị đã cho ra mắt công chúng 2 tập thơ: Lối nhỏ (1988), Bài
mẫu giáo sáng thế (1993). Ngoài làm thơ chị còn viết tiểu
thuyết tự truyện, viết sách du ký, dịch một số tác phẩm đương đại của Trung Quốc.
“41 tuổi bước vào làng thơ bằng một “Lối nhỏ”, Dư Thị Hoàn dường như không có ý định làm thơ
như một sự chọn lựa sinh tồn, mà thơ đến với chị như sự bù đắp những nghiêng ngả
mệnh kiếp long đong” (Lê
Thiếu Nhơn).
Có lối nhỏ chia đôi thảm cỏ/ Em
thả bước chán chường/ Có lối nhỏ gập ghềnh sỏi đá/ Gót chân em nện xuống dữ dằn/
Có lối nhỏ vương cây xấu hổ/ Em sợ nó khép mình/ Biết làm sao bây giờ/ Chính lối
này đưa em tới anh… (Lối nhỏ).
Đọc thơ Dư Thị Hoàn ta bắt gặp tâm hồn của một người đàn bà mang nhiều nỗi
niềm ẩn ức. Chính cuộc đời nhiều thăng trầm, khổ ải sản sinh ra một hồn thơ đặc
biệt như chị. Dư Thị Hoàn ký gửi vào thơ nỗi buồn khó nói, nỗi đau khó diễn tả,
những nỗi giằng xé trong tâm can mình. Đó cũng chính là những “lối nhỏ”
để nhà thơ giãi bày lòng mình, những suy nghĩ, quan điểm của mình trước bản
thân, con người và thời đại.
Bao biến động của thời cuộc, những gập ghềnh, gấp khúc, ngã rẽ của cuộc đời
mình, của gia đình, người thân; và những tai họa liên tiếp ập đến với chị. Dư
Thị Hoàn cảm thấy bất an, nhiều lúc như mất niềm tin vào thực tại. Chị chợt nhận
ra số phận của mình, nhà thơ thẳng thắn nêu lên quan điểm:
Đừng bắt tôi lên diễn đàn/ Đừng
buộc tôi ra sân khấu/ Hãy để tôi
ngồi yên trong góc tối/ Như cái
triện đen/ giáng xuống/ Tờ khai sinh của tôi / Thời cuộc sắp đặt tôi/ Gần hết một
đời rồi/ Tôi đã quen chỗ ngồi/ Góc tối
(Số phận).
Dư
Thị Hoàn cảm nhận rõ những mất mát và tổn thương của bản thân mình. Một sự thật
đau buồn: Như cái triện đen/ giáng xuống/ Tờ khai sinh của tôi. Khi tuổi thanh xuân không còn
nữa, đã gần hết một đời, nhà thơ cảm thấy trơ lì, già nua, cằn cỗi. Một thế giới
đầy rẫy những nghịch lý, oái oăm. Nên chị không thích chốn ồn ào, đông đúc, thị
phi. Chỉ quen chỗ ngồi là góc tối!
Chị bước vào làng văn nghệ khá muộn, ở tuổi ngoài
40 và gia nhập làng văn đúng vào thời điểm đổi mới, mở cửa, văn nghệ được “cởi
trói”. Người nghệ sĩ có quyền nói lên tiếng nói cá nhân, khám phá, mổ xẻ dưới
cái nhìn đa chiều. Tiếng nói ấy của chị là tiếng nói về cái tôi cá nhân của
mình: một cái tôi buồn, cô đơn, hoài nghi, đầy chênh chao và biến động. Trên
cơ sở đó, chị có cái nhìn, suy tư, trăn trở về con người và những vấn đề của đời
sống.
Tất cả đều biến dạng/ Méo mó/ Mọi người đều hóa hình/ Quái gở - Người ta
tung tiền vào đây/ Cốt để phá lên cười/ Cười khoái trá/ Cười rũ rượi/ Cười quên
hết sự đời - Còn tôi/ Tình nguyện vào đây/ Để khóc/ Không chỉ cho một mình tôi (Nhà cười).
Cuộc
sống thật - giả lẫn lộn, quái gở, “nhiễm độc”, sống vì tiền… Nhà thơ rơi vào
tình thế bi đát và tình nguyện khóc. Khóc không chỉ cho bản thân mình mà là khóc cho tất
cả những con người có phận kiếp như mình.
Dư
Thị Hoàn tự vấn với chính mình. Đó là cách nhà thơ tự “thanh lọc”, nhìn nhận,
đánh giá mình đầy đủ nhất. Và sau đó, chị cảm thấy mình đau khổ và cô đơn hơn.
Dư Thị Hoàn sẵn sàng chịu thua thiệt: Thân tôi bẩn cho các người sạch sẽ (Lời giẻ lau).
Trong
bài thơ Hóa công nhà thơ lại đau đáu khi thấy mọi thứ trên cuộc đời
giống như một màn kịch.
Mượn
xác càn khôn/ Vi hành trên cõi/ Sáu tư quẻ/ Gieo xuống trần gian/ Sinh sự/ Mà
thản nhiên/ Đến nỗi/ Chỉ loài người đổ lỗi cho nhau.
Dư Thị Hoàn là người phụ nữ có cá
tính, thích xê dịch: Đang làm cái này thấy cái khác hay hơn thì bỏ, đang ở chỗ
này thì muốn đến nơi khác; quan điểm của chị khá rõ ràng: Khâu lại chiếc
ba lô chưa kịp rũ bụi/ Ừ, em đi/ Lại một hành trình không chú thích/ Thân gái dặm
trường/ Mùa nào mà chẳng hư không (Vi
vu).
Đối thoại với chính mình, nhà thơ cảm
thấy như được trút xả những nỗi niềm nghẹn ứ mà bấy lâu phải kìm nén trong
lòng. Biến cố xảy ra với gia đình, cha mẹ, người thân là nỗi đau lớn, luôn cắt
cứa trong tâm hồn chị.
Sao mẹ không nói cho rõ/ Mẹ con mình rồi mỗi người một ngả/ Để con được lao
vào lòng mẹ/ Khóc cho hết hơi/ Khóc cho trời sập/ Khóc cho cột điện đổ/ Khóc
cho tà vẹt trôi/ Khóc cho còi tàu căm bặt/ Khóc cho tay lái rời vô lăng/ Khóc
cho đoàn tàu không dám lăn bánh… (Mười
năm tiếng khóc).
Thơ Dư Thị Hoàn không phải là loại
thơ dễ đọc. Thơ chị ngổn ngang, bề bộn nhiều thứ. Đó là thơ của một người đàn
bà trải qua những va đập, khốn khó, mất mát và đau thương. Giọng thơ hoài nghi,
đầy ẩn ức và tràn ngập nỗi cô đơn. Thơ chị liên kết lại bởi một chuỗi các sự việc,
hiện tượng, hình ảnh, nó giống như những gì đang diễn ra trong suy nghĩ của nhà
thơ. Chị không chú tâm nhiều đến hình thức, đẽo gọt, lắp ghép câu chữ. Với chị:
không thể làm thứ thơ véo von, uyển chuyển dùng để ngâm vịnh, tán tụng nhau. Vì
thứ thơ ấy dù có thịnh đến mấy thì cũng đã tới đỉnh của nó, phía bên kia đỉnh
là vực thẳm. Trong bài Khi cầm bút, chị cũng đã thể hiện rõ
quan điểm của mình: Tôi mong được làm điểm tựa/ Chống chọi sức đè nén/
Cho đòn bẩy nhấc bổng cuộc đời/ Những người xấu số. Điều này rất đáng
trân trọng đối với một người cầm bút. Đó vừa là trách nhiệm, là ý thức tự giác
của một nghệ sĩ có tâm.
Thời gian đầu Dư Thị Hoàn làm thơ
cũng là lúc gia đình chị lâm vào cảnh khốn đốn, túng quẫn, bệnh tật. Chị bị bệnh
tâm thần, trong bệnh viện người đàn bà tâm thần ấy lại có suy nghĩ: Tôi
sẽ khỏi bệnh/ Lại dịu dàng hát bên khung thêu ngày ấy/ Không cần bác sĩ/ Không
cần những viên thuốc đắt tiền/ Chỉ cần đôi bàn tay nào run rẩy mang đến/ một
nhành hoa dại thôi.
Cái quan trọng nhất đối với chị đó
là tình thương. Tình thương, sự quan tâm giữa người với người nó quý hơn tiền bạc,
hiệu nghiệm hơn gấp bội phần so với những thứ thuốc đắt tiền kia. Nhà thơ nhận
thấy rằng: Cuộc sống hiện đại giờ đây vật chất thì đủ đầy nhưng tinh thần lại tẻ
nhạt, lòng người dường như lãnh đạm, thờ ơ.
Ngay trong lúc bệnh tật mà chị có
những vần thơ triết lý hay đến vậy. Lúc này, Dư Thị Hoàn tìm đến thơ và chính
thơ là liều thuốc an thần hiệu quả nhất giúp chị mau lành bệnh.
Thơ Dư Thị Hoàn ám ảnh người đọc bởi
lối suy tưởng, triết lý độc đáo, tạo nên những bất ngờ. Bài thơ Đi lễ
chùa là một minh chứng.
Năm người đàn
bà cùng ngồi trên xe ngựa
Tay khư khư ôm đầy vật tế lễ
Người thứ nhất thở dài:
- Tội nghiệp nhất người đàn bà không chồng
Người thứ hai chép miệng:
- Vô phúc nhất người đàn bà không con
Người thứ ba
cười buông:
- Bất hạnh nhất người đàn bà không khóc nổi trước mặt chồng
Người thứ tư điềm đạm:
- Tuyệt vọng nhất người đàn bà không cười được khi thấy con
Người thứ năm:
- Mô phật!
Lão xà ích giật dây cương
Roi quất
Tung bụi đường.
Năm người đàn bà đi lễ chùa là năm số phận. Người nào cũng có những nỗi niềm
riêng, nỗi đau riêng của thân phận đàn bà. Đọc bài thơ ta như tìm về sự an ủi,
nhẹ nhõm hơn trước cuộc đời vốn thăng trầm và đầy biến động. Nhưng có lẽ người
đàn bà thứ năm là “tội nghiệp nhất”, “vô phúc nhất”, “bất hạnh nhất” và “tuyệt
vọng nhất”. Khi nỗi đau lên đến tột cùng, người đàn bà thứ năm không than
thở điều gì, và cũng chẳng biết than thở cùng ai, than thở thế nào. Thôi thì
hãy tìm về cõi Thiền và chỉ nói Mô Phật!. Tìm đến cõi Phật để rũ bỏ
mọi muộn phiền của đời sống trần tục, để nương tựa và bình tâm sau những tai
ương, mất mát, nạn kiếp của cuộc đời. Thế nhưng liệu đó có phải là giải pháp tối
ưu?.
Năm 1987, bài thơ Tan vỡ trình làng đã gây xôn xao
dư luận. Bài thơ như là pháo lệnh đầu tiên khẳng định và nói
lên tiếng nói tình yêu công khai, rõ ràng, dứt khoát của người phụ nữ.
Tất cả rồi dễ qua đi, qua đi
Chúng mình sẽ thành vợ thành chồng
Nếu không có một lần…
Một lần như đêm nay
Sau phút giây
Êm đềm trên ghế đá
Anh không cài lại khuy áo ngực cho em
Sự lơ đãng, sự vô tâm trong công việc còn có thể bỏ qua (Mở ngăn kéo rồi
anh bỏ ngỏ/ Bút viết xong không đậy nắp bao giờ). Nhưng sự vô tâm, lơ
đãng của anh trong tình yêu đối với em thì không thể nào chấp nhận được (Sau
phút giây/ Êm đềm trên ghế đá/ Anh không cài lại khuy áo ngực cho em). Vì
trong tình yêu không cho phép và tối kỵ điều đó. Không có ý thức và thiếu trách
nhiệm thì không thể có một tình yêu vững bền và hạnh phúc. Tình yêu ấy chắc chắn
sẽ “tan vỡ”…
Trong những bài thơ viết về tình yêu, bao giờ nhà thơ cũng mạnh mẽ, chủ động
đưa ra những yêu cầu đối với anh: Hãy buông xuống/ Đừng giơ bàn tay che ngọn
đèn dầu/ Đừng khám phá em/ Bằng đôi mắt nấp sau bóng đêm (Ánh lửa).
Nhân vật trữ tình “Em” vẫn có nét
bao dung của một người đàn bà thấu hiểu lẽ đời và biết tha thứ:
Anh chỉ vào vầng trăng/ rồi/ lại
hứa…/ Anh ạ,/ Em không trách anh đâu!/ Bởi vì/ Trong trái tim tha thứ của em/ Vầng
trăng bắt đầu biến tấu/ Những giai điệu dối lừa… (Bản Sonate).
Nhà thơ cũng nghiệm ra sự thật của
cuộc đời: Nếu anh cũng như em/ Đòi nhau sự viên mãn/ Thì điểm gặp của
chúng ta/ Còn thảm hại hơn hai hòn bi (Viên
mãn).
Người đọc vô cùng cảm động khi đọc
bài Chớ vội vàng hỡi con trai yêu (viết cho đứa con
trai Thi Giang) của Dư Thị Hoàn. Bài thơ là lời tâm sự hết sức chân thành
và ý nghĩa của một người mẹ, thể hiện “tính nữ” của chị rất rõ nét. Người mẹ đã
quan tâm chở che, yêu thương con vô bờ; mọi việc làm, mọi sinh hoạt của con đều
có mẹ bên cạnh. Nhưng rồi, người mẹ lại lo sợ con trai tuột khỏi tầm tay mẹ: “Từ
khi con gọi thầm tên cô thiếu nữ”.
Tình yêu là lẽ sống. Con cũng cần phải có tổ ấm riêng mình. Người mẹ cũng
thấu rõ điều đó nên mẹ cũng cảm thấy yên lòng, mẹ cảm thấy ấm áp trong những
năm tháng cuối đời. Vì con được hạnh phúc trong cuộc sống lứa đôi. Nhưng trái
tim của một người đàn bà trải qua sóng gió, bão táp cuộc đời như chị lại canh
cánh một nỗi lo:
Hạnh phúc các con - một tia sáng cuối đời mẹ
Mẹ chỉ lo rồi vụt tắt đi
Một mai con lại thành xa lạ
Với người đàn bà non nớt kia
Một nỗi lo mang đầy tính nhân văn, nhân bản !.
Dư Thị Hoàn là một nhà thơ nữ có cá tính, viết
nhiều về nỗi đau, sự cô đơn của thân phận đàn bà. Tiếng thơ Dư Thị Hoàn đã trở
thành một hiện tượng trong thơ Việt đương đại. Những bài thơ, tập thơ của chị
chính là những “lối nhỏ” để nhà thơ vào đời và kiếm tìm một sự thật, sự
thật ấy được nói bằng ngôn ngữ của một nghệ sĩ có tâm và đầy ý thức trách nhiệm.
Do vậy, tôi tin thơ chị sẽ có sức sống lâu bền với thời gian.
Trích sách Tình Thơ Bạn Thơ/
VANDANBNN gt
Trích sách Tình Thơ Bạn Thơ/
VANDANBNN gt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét